Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013
Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013
Lịch sử Phật giáo
Phật giáo là một tôn giáo được đức Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN. Do đạo Phật được truyền đi trong một hơn hay 2500 năm và lan ra nhiều nơi cho nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của nó khá đa dạng về các bộ phái cũng như là các nghi thức và phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, đức Thích Ca, người truyền đạo Phật, đã thiết lập được một giáo hội với các luật lệ hoạt động chặt chẽ của nó. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với các hoàn cảnh chế độ xã hội, con người, và tập tục ở các thời kỳ khác nhau, nên ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
1. Bối cảnh lịch sử Ấn Độ trước Phật giáo
Về địa lý, phía Bắc của Ấn Độ là dãy Hy-mã-lạp-sơn (Hymalaya) cao lớn và dài tạo nên một hàng rào cô lập các vùng bình nguyên của xứ này với các vùng còn lại. Để liên lạc với bên ngoài thì chỉ có con đường núi xuyên qua A Phú Hãn (Afghanistan). Nền văn hóa chính ngự trị thời bấy giờ là văn hóa Vệ Đà (Veda). Theo sử liệu hiện nay thì dân tộc Ấn (Veda) có chung tổ tiên với các dân tộc châu Âu là các bộ lạc du mục đã mở mang và xâm chiếm các vùng lãnh thổ Tây Bắc Ấn và lan rộng ra hầu hết bán đảo Ấn Độ khoảng 1000 năm trước Công Nguyên.
Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013
QUÊ HƯƠNG LÀ CHÙM KHẾ NGỌT
Lê
Duy Đức (những ngày thực tập tại KL – Malaysia )
Đong
cho đầy bột cà phê, tôi mong ngóng vị quê hương nồng lên mũi. Bản piano
Gymnopédies trầm lắng và thanh tao chẳng hiểu sao lại kéo tôi về cái không gian
cổ kính xứ Đoài thôn Đông, nơi con trâu lầm lũi kéo cái cần cù cực nhọc dài cả
cánh đồng...
Quê
hương là chùm khế ngọt,
Cho
con trèo hái mỗi ngày.
Bơi
vào vùng ký ức, bám vào cái phao hình ảnh dải đất cong cong hình chữ S, tôi ngụp
lặn trong cơn sóng trắng xóa. Gió biển Vũng Tàu thốc vào mặt, kèm theo cát và
muối, thổi bay những rối bời tuổi mới lớn. Mảnh đất nhỏ nhắn hiền hòa này tri kỷ
với biển từ khi tôi chưa ra đời nữa. Cái bình yên quá giản dị để níu kéo khát vọng
và hiếu kỳ của tuổi trẻ, mặc cho những chân trời mới bắt cóc tôi ra khỏi xứ biển
trống vắng...
Sáu
năm rong ruổi đường, hẻm, ngõ, ngách, chất Sài Gòn len lỏi vào tâm hồn tôi: sôi
động, gấp gáp, tiền trao cháo múc, cà phê cuối tuần, thiết bị hitech sành điệu…
Cái ngập nửa bánh xe lúc triều cường, cái chen chúc trong Co-op mart tính tiền,
cái lô cốt đáng ghét và vô vàn cái điên tiết ấy tự hồi nào hữu cơ hóa đời sống
của tôi vào quận Bình Thạnh xô bồ. Sài Gòn nắng hay mưa, những cuộc trò chuyện
ăn chơi nhảy múa vẫn đều một vòng quay
Sài
Gòn mưa trưa, nắng sớm
Tìm
cho ra ngôi quán êm
Hẹn
nhau ngôi xanh như lá
Hẹn
nhau trong nắng mượt mà
Còn
đó thủ đô đỏng đảnh cái rét đầu đông và nồng nàn mùi hoa sữa, Sa Pa bồng bềnh
trong mây, Phú Quốc trong vắt bờ biển xanh…
Quê
hương đâu chỉ là những địa danh vô cảm. Quê hương còn là người mẹ tần tảo chắt
chiu sớm hôm chăm con khôn lớn (đứa con chẳng bao giờ lớn trong thế giới quan của
mẹ cả), là người cha chất phác bươn bả vun đắp tổ ấm, là bao tiếng xưng hô anh
chị em mày tao cậu tớ ấy cô dì chú bác mợ thím ông bà tôi vô thức bật miệng hằng
ngày.
Quê
hương nếu ai không nhớ…
Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013
CÔ TÔI
Giữa Sài Gòn sôi động, cuốn hút vào những
cuộc mưu sinh không ít căng thẳng và mệt mỏi, đôi khi tôi thả mình vào ký ức về
gia đình để tìm lại sự bình thản, niềm an ủi thực kỳ diệu.
Trong nguồn ký ức đó có hình ảnh của cô tôi - người cũng đang sống ở Thành phố
lớn ầm ào này. Và tôi hay nhớ về những ngày cuối tháng 12 năm 1972 kinh hoàng
đó…Khi đó, cô tôi mới sinh em gái được 4 tháng. Cô vẫn công tác ở
Hà nội vì cơ quan của cô chưa phải đi sơ tán.
Cô là em ruột bố tôi. Trước đây cô là sinh viên khóa đầu của trường
Đại học Bách khoa –ngôi trường hình như chỉ dành cho cánh “mày râu” đạp trời đạp
đất, nhưng cô tôi vẫn nổi bật là sinh viên ưu tú hát hay, học giỏi và nhiều
anh chàng đã từng thầm thương trộm nhớ…
Ngày 18/12/1972, đang nằm chơi với con gái mới sinh của cô trên giường,
bỗng tôi giật mình vì hồi còi báo động vang lên khẩn cấp, kèm theo tiếng
loa phát thanh : “Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà nội
60 cây số, các lực lượng vũ trang chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu…!”
Tai tôi như bị ù đi vì tiếng máy bay gầm rú và những tiếng nổ kinh hoàng, từng
lớp vữa trên trần nhà thi nhau rớt xuống. Tôi vội vã xốc em lên tay, loạng
choạng chạy ra sân sau, nhảy xuống hầm (gọi là hồ nước ngầm nhưng cạn nước
vì vào mùa đông, rộng bằng cái sân sau, khoảng chừng 15m2, mà thường ngày
tôi rất sợ khi nhìn xuống đó). Con bé chẳng hề khóc, cứ mở to đôi mắt nhìn chị
lóng ngóng vừa ôm mình vừa chạy. Đây cũng là lần đầu tiên tôi bế em - cô tôi
không cho tôi bế vì sợ làm rơi em bé...
Tôi không hiểu vì sao lúc đó tôi có thể vừa bế em, vừa nhảy xuống bể ngầm sâu gần
2m như vậy, mà không hề có một điểm tựa nào. Lúc mọi người đưa hai chị em
lên trên, ai nấy đều ngạc nhiên không thể tin nổi khi thấy cả hai đứa không hề
bị xây xát một chút gì. Dường như có một phép màu vậy…
Cả hai đêm 18,19/12/1972 tôi và cô tôi hầu như không được ngủ, vì những đợt
bom B52 cứ liên miên không ngớt. Em bé 4 tháng tuổi cứ giật mình khóc thét mỗi
lần có tiếng còi báo động và tiếng ầm ì dai dẳng, gớm ghiếc của máy bay B52.
Sáng 20/12/72, Hà Nội có lệnh sơ tán toàn bộ dân chúng- kể cả cơ quan thuộc
đầu não của cô tôi. Lúc đó, tôi không thể về nơi sơ tán Bắc ninh với bố mẹ được
nữa, vì các ngả đường đều bị phong tỏa và hầu như bị ném bom. Hai cô cháu
đi nhờ xe của quân đội về Hà tây, gia đình cô đang sơ tán ở đó. Hai ngày
hai đêm mất ngủ , cộng với sức khỏe còn chưa hồi phục sau khi sinh em bé, cô
tôi đã bị cảm, nóng hầm hập, gương mặt cô tôi lúc đó trông thật mệt mỏi,
nhưng vẫn đẹp làm sao, nhất là đôi mắt của cô, vừa hiền từ, nhân hậu nhưng vô
cùng kiên quyết! Sự bình thản, gan dạ, điềm tĩnh lạ thường của một người mẹ
đang bị cảm sốt với đứa bé nhỏ xíu trên tay hối hả rời thủ đô vào buổi sáng mùa
đông giá lạnh đã giúp tôi có thêm sức mạnh để quên sợ, quên mệt. Tôi cùng cô
tôi hòa vào dòng người di tản…
Khi xe quân đội dừng lại, hai cô cháu còn phải đi bộ thêm một đọan đường
khoảng 8km nữa mới tới nơi sơ tán. Không biết bằng cách nào cô kiếm được
cái xe đạp và cái cũi bằng gỗ, buộc đằng sau xe . Cái cũi lúc đó tôi có cảm
giác nuốt hết cả người cô, vì nó chỉ được đóng rất sơ sài bằng những thanh gỗ sần
sùi, to bản, còn lởm chởm những viền gỗ chưa được bào nhẵn, nó hoàn toàn đối lập
với một người mẹ trẻ dáng bé nhỏ, trông thật mong manh. Lúc đó là buổi chiều âm
u, lạnh thấu xương, hai cô cháu đi men theo những con đường nhỏ, hai bên chỉ là
ruộng và những hố bom sâu như những cái ao, những chiếc hầm cá nhân không
có nắp nằm chơ vơ bên đường. Thỉnh thoảng, cô dừng lại, bế em bé trong cũi ra ,
và bảo tôi nhảy xuống hầm cá nhân. Những lúc đó tôi chỉ kịp nhìn thấy đạn bay
vèo vèo qua người, cô tôi nhoài người ra che cho tôi trong khi tay vẫn ôm khư
khư em bé. Trời đã tối nhưng sáng rõ như ban ngày vì tia chớp lửa đạn. Nét mặt,
ánh mắt cô tôi lúc đó vẫn bình thản, kiên định cứ in sâu vào tâm trí tôi
cho đến tận giờ…
Hiện nay, tuy đã nhiều tuổi nhưng cô vẫn sáng suốt, minh mẫn, thông thái,
tế nhị như ngày nào. Đã từ lâu nay, cô luôn luôn là điểm tựa tinh thần , là tấm
gương cho các con các cháu, là niềm tự hào của cả dòng họ từng một thời vang
bóng ở Thành cổ Sơn Tây – thị xã Sơn tây.
Còn có một người nữa mà tôi không thể không nói đến khi kể về cô tôi, đó là người
bạn đời của cô, một bác sĩ quân y mà anh em tôi vẫn gọi đùa một cách kính trọng
là “Thầy lang”. Tôi sẽ kể về chú sớm nhất để những ấn tượng thân yêu về cô tôi
được rõ nét hơn.
Chẳng hiểu có phải do tình cờ của số phận hay không, cô đã ở bên
tôi trong những giây phút khó khăn, hiểm nguy nhất mà có lẽ tôi không bao
giờ quên…
Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013
THÔI GÁC BÚT, CHẲNG LÀM THƠ NỮA
Thôi gác bút, chẳng làm thơ nữa
Cứ rong ruổi nhởn nhơ trên những phím đàn
Cười khoan khoái với những tấm ảnh mèo chó
Hoặc thả bộ trên từng vỉa hè, con phố
Mỗi buổi chiều về nắng vẫn còn chứa chan.
Thôi buông bút, chẳng họa thơ nữa
Cứ phóng tay mà quên mất mình là ai
Cứ miên man đùa vui, cười nghịch ngợm
Rồi khóc buồn vương vấn…chẳng giống ai
Dẫu biết khi làm thơ mình như bay trong mơ
Lúc khôn, lúc dại, rồi thẫn thờ gào thét
Lúc thì thầm nhỏ nhẹ cười duyên với mây gió
Rồi giật mình tỉnh lại thấy mình thật bơ vơ
Dẫu biết thơ đem lại cho mình nhiều niềm vui hy vọng
Nhưng khi đã vào nhịp thơ
Mình tựa như chong chóng
cứ quay vòng, quay mãi…
thành hình một chữ Không
Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013
Prelude op.28, no.4 cung Mi thứ của Frédéric Chopin
Prelude là khúc dạo đầu ( tiếng Ý có nghĩa là: "dạo ngón trên đàn Lute") - đây là một khúc nhạc ngắn, như một lời nói đầu. Thời kỳ đầu chúng là những khúc ứng tác tự do, là những nét dạo ngắn dùng như những đoạn giới thiệu ngắn cho một đoạn nhạc lớn hơn. Thời kỳ Baroque được dùng để giới thiệu trước khi vào một thể loại khác dài hơn và phức tạp hơn . Sang thời kỳ lãng mạn nó trở thành một tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh, Frédéric Chopin (1810 - 1849) đã viết một bộ 24 prelude, Op. 28, là những điệu thức trưởng, thứ quay vòng, được đánh dấu lẻ chẵn. Số lẻ là trưởng, chẵn là thứ, bắt đầu bằng Đô trưởng và mỗi bản được tiếp theo bằng một prelude ở điệu thức tương ứng. Những prelude tiến lên qua dấu thăng tăng dần và dấu giáng giảm dần (ví dụ : No.1 Đô trưởng, No.2 La thứ, No.3 Son trưởng, No.4 Mi thứ…).
Prelude op.28, no.4 cung Mi thứ là một trong 24 prelude Frédéric Chopin viết trong mùa đông 1838 -1839 tai Valdermosa- Majorca – một hòn đảo thơ mộng cùng người tình hơn mình 6 tuổi George Sand (Amantine Aurore Lucile Dupin), là vợ cũ của nam tước Casimir Dudevant.
Prelude op.28, no.4 cung Mi thứ là một trong 24 prelude Frédéric Chopin viết trong mùa đông 1838 -1839 tai Valdermosa- Majorca – một hòn đảo thơ mộng cùng người tình hơn mình 6 tuổi George Sand (Amantine Aurore Lucile Dupin), là vợ cũ của nam tước Casimir Dudevant.
Nghệ sĩ piano người Pháp François-René Duchâble (1952)
trình bày bản nhạc này
Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013
Nocturne Op.48 No.2, cung Fa thăng thứ của F. Chopin
Vào thế kỉ 18, nocturne (dạ khúc) là một thể loại soạn cho dàn nhạc thính phòng gồm nhiều chương gần giống với serenade thế kỉ 18, thường được chơi tại các bữa tiệc đêm. Các nocturne, mà tên tiếng Ý là notturno, chủ yếu lấy cảm hứng từ đêm hoặc gợi lên không khí của đêm.
Đến thế kỉ 19, một nhà soạn nhạc người Ireland là John Field đã sáng tạo ra kiểu norturne chỉ có một chương dành cho piano độc tấu. Các nocturne Lãng mạn của John Field mang đặc trưng giai điệu có thể hát lên được (cantabile) và sử dụng nhiều hợp âm rải.
Nhưng nhắc đến nocturne Lãng mạn thì không thể không nhắc đến tên tuổi Frédéric Chopin - người kế thừa và đưa thể loại này lên đỉnh cao. - người được mệnh danh là “nhà thơ của cây đàn piano”. Trong số 21 bản nocturne của Chopin, hầu hết đều là các kiệt tác của thể loại nói riêng và của âm nhạc cho piano nói chung.
Nocturne op. 48, No.2, cung Fa thăng thứ Chopin sáng tác năm 1841 – thời gian ông đang ngập tràn trong hạnh phúc với George Sand (Aurore Dudevant– quả phụ của nam tước Casimir Dudevant) tại điền trang của G. Sand…
Đến thế kỉ 19, một nhà soạn nhạc người Ireland là John Field đã sáng tạo ra kiểu norturne chỉ có một chương dành cho piano độc tấu. Các nocturne Lãng mạn của John Field mang đặc trưng giai điệu có thể hát lên được (cantabile) và sử dụng nhiều hợp âm rải.
Nhưng nhắc đến nocturne Lãng mạn thì không thể không nhắc đến tên tuổi Frédéric Chopin - người kế thừa và đưa thể loại này lên đỉnh cao. - người được mệnh danh là “nhà thơ của cây đàn piano”. Trong số 21 bản nocturne của Chopin, hầu hết đều là các kiệt tác của thể loại nói riêng và của âm nhạc cho piano nói chung.
Nocturne op. 48, No.2, cung Fa thăng thứ Chopin sáng tác năm 1841 – thời gian ông đang ngập tràn trong hạnh phúc với George Sand (Aurore Dudevant– quả phụ của nam tước Casimir Dudevant) tại điền trang của G. Sand…
Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013
BÓNG THIỀN
Truyện ngắn
NGUYỄN ANH TUẤN (Nhà văn - Đạo diễn điện ảnh)
Trong khuôn viên một
ngôi chùa nhỏ rêu phong và rợp bóng cổ thụ ở rất xa Kinh thành, Nhật Tôn ăn vận
lối hành giả bước đi với dáng vẻ không giống ngài mọi ngày…
Chuông, mõ và tiếng tụng
kinh chiều bắt đầu lan tỏa không gian tĩnh lặng thoảng hương ngâu, hương nhài.
Nhật Tôn bất giác chùng bước lại, hít một hơi thở sâu, rồi cũng chắp tay niệm
theo. Cảnh vật này đã in đậm trong tâm khảm ngài từ hồi tóc để chỏm, sau những
lần theo Thái thượng hoàng tới thăm thú các vùng Long Hưng, Tức Mặc, Vũ Lâm(1).
Và cũng tại một chùa quê, ông nội ngài thốt lên những lời tưởng kỳ quặc: “Ta
xem ngai vàng như chiếc giày rách, bỏ lúc nào cũng được”. Giờ ngài chợt như được
nghe tiếng nói đó dội về từ một chốn sâu thẳm và ngộ được hết ẩn ý sâu xa của
chúng.
Sau khi truyền ngôi cho
thái tử Trần Thuyên, ngài bắt đầu thực tập xuất gia như hằng nguyện. Ngài vừa
trải qua một thời gian khá dài sống ở Vũ Lâm giảng cứu Đại tạng kinh, tu tập mười
hai hạnh Đầu đà(2). Giờ đây, ngài thỉnh thoảng tới các chùa quê vãn cảnh, tham
thiền và khảo cứu tinh thần Phật pháp trong dân gian- như một nhu cầu nội tâm
không cưỡng nổi mà ngài chưa tự lý giải được. Cũng có thể do ngài vốn không hề
có cảm tình, thậm chí ác cảm với những ngôi chùa to rộng do các vương hầu, chúa
đất đổ tiền của xây cất. Hồi còn là một hoàng tử thiếu niên, ngài đã nghe câu
chuyện về một đại vương dựng phủ đệ lộng lẫy quá mức, thượng hoàng nghe tin sai
người đến xem, ông ta hoảng sợ phải bày tượng Phật để thờ, sau phủ đệ ấy buộc
biến thành chùa! Mấy năm qua, kể từ khi giặc Nguyên bại trận lần thứ ba tại Đại
Việt, thiên hạ thái bình, thói hưởng thụ đầy thách thức “một người đội ơn vua,
cả nhà ăn lộc trời” bắt đầu tác oai tác quái cùng với chùa to phủ lớn, lâu đài
cung thất nguy nga đua nhau mọc lên… Hồi chiến sự căng thẳng là thế, nhưng giữa
hành cung Vũ Lâm – tổng hành dinh cự giặc của triều đình, ngài vẫn có thể cảm
nhận được “mây ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng lại” (Thấp vân như mộng
viễn chung thanh)… Thế mà bây giờ, sao ngài lại cảm thấy một cái gì ngột ngạt,
nặng nề?
Đây là lần thứ hai ngài
tới ngôi chùa quê này. Và có lẽ ngài còn phải lui tới đôi ba lần nữa. Không chỉ
vì cảnh vật thanh u hợp với tâm tính ngài. Cũng không chỉ vì hứng thú với cuộc
chuyện trò cùng sư trụ trì khá thâm hậu trong các công án Thiền và còn giữ nhiều
nét dân dã. Càng không phải vì một ni cô xinh đẹp mới xuống tóc. Nhưng thực ra,
cái nguyên cớ thật sự chính lại là ni cô kia…
Lần đầu tiên, lúc ni cô
dâng khách hành hương bát nước nụ vối, Nhật Tôn thoáng gặp cái sầu thảm mênh
mông vụt hiện trên vẻ thơ ngây thánh thiện của cô. Ngài choáng váng. Ở cô có gì
hao hao với công chúa nhỏ Huyền Trân, đứa con gái yêu vẫn chơi đùa cùng thị nữ
trong ngự uyển, thường theo ngài tới các chùa vùng Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Đông
dự lễ chay đàn, nghe giảng kinh Phật. Cô gái kia, tuổi trăng tròn, lóng lánh ngọc
nữ, mộng mị sương thu lại khoác bộ nâu sòng, chít khăn thị giả và ẩn giấu nỗi
buồn héo quặn cả cánh sen gỗ.
Ta vốn công danh chẳng
trọng, phú quý chẳng màng, sống đạm bạc dứt trừ vọng niệm, ngồi trong nhân thế,
chẳng quản sự đổi thay đã đành.
Nhưng còn con, giống
như con gái ta, người mà mỗi bước đi bên hoa cũng khiến ta ứa lệ hân hoan.
Mỗi ánh chau mày của
con khiến đức Phật trên đài cao cũng mỉm cười độ lượng
Vì sao con sớm lìa bỏ
niềm vui thú nhân gian?
Nhật Tôn ngỏ lời với sư
trụ trì xin được gặp ni cô. Ông thầy chùa nhìn vị hành giả thoáng dò hỏi, rồi gật
đầu. Nhưng ni cô đang trong giờ tụng niệm. Ngài đành đứng ngoài chính điện chờ,
lầm rầm niệm theo.
Con ơi, Tuệ Trung Thượng
sĩ thầy ta từng dạy: “Khi mê không biết ta là Phật – Khi ngộ thì ra Phật là
ta”.
Con hãy làm Phật trong
cánh tay vỗ về của người thân.
Bữa ăn dù chỉ dưa cháo
năm thất bát, song thân tâm vui vẻ, giới-lòng còn quý hơn giới-tướng.
Con đâu cần rũ hết trần
duyên để tìm giải thoát nơi khổ hạnh, bởi đó đâu phải là sứ mạng của con!
Muốn giới – tuệ(3) đâu
cần bước vào cỗ xe lớn nhỏ của Phật – Pháp -Tăng?
Trong lúc chờ đợi, Nhật
Tôn ngồi đàm đạo cùng sư trụ trì hồi lâu. Về giáo lý Thiền tông, Tịnh độ tông.
Về phong thủy của chùa. Về chư tăng ni, Phật tử quanh vùng. Rồi đến nguyên cớ
cô gái quy y Tam Bảo… Nhật Tôn hình dung ra cuộc trò chuyện sắp tới với ni cô.
- Thầy trụ trì đã kể về
con ít nhiều. Nhưng ta muốn nghe trực tiếp từ miệng con.
- Thưa đại Đầu đà, gia
cảnh con buồn lắm, ngài cần biết làm gì?
- Ai mà chẳng có nỗi sầu
bi hở con? Biết đâu chúng ta sẽ san sẻ được cho nhau để vợi bớt…
- Vâng, nếu vậy con xin
kể… Cha con là lính cũ đánh giặc Thát Đát cả hai lần sau. Ông nội con thì ở
đoàn dũng binh năm Nguyên Phong thứ ảy…
- À, đó là năm Thái thượng
hoàng của ta rất vui trước niềm tự tin của Thái sư Trần Thủ Độ: “Đầu thần chưa
rơi xuống đất, xin bệ hạ chớ lo gì”.
- Cả ông nội và cha con
đều là gia nô của vương hầu Quý Thịnh…
- À phải, họ có trang ấp
cực lớn phía tây nam Kinh thành!
- Cha con sau bao trận
mạc cùng chủ trở về, thấy chủ được triều đình cấp đất thưởng công hậu hĩ, còn
mình lại hoàn nguyên thân phận cũ thì bất bình lắm.
- Nếu là ta, thì ta
cũng bất bình chứ sao!- Nhật Tôn buột miệng.
Ni cô hơi ngỡ ngàng,
thoáng nhìn vị khách lạ. Cô chỉ thấy một bức tượng đá.
- Nhưng rồi ông cũng an
phận, hy vọng được ban chút lộc rơi để dựng lại nếp nhà nhỏ chỉ đợi sập và chăm
lũ con ốm o đói rách…
Cô gái chợt im bặt.
- Sao nữa, con cứ nói
chớ e ngại.
Cô gái mím môi giây lát
rồi bật ra:
- Vâng, chờ đợi đến tuyệt
vọng…
- Kỳ lạ thế? Ta được
nghe kể: vợ chồng vương hầu đó là những người hào hoa, sùng Phật, sẵn sàng cúng
hàng trăm mẫu ruộng cho chùa chiền, chi hàng trăm lạng bạc để mời một gánh hát
về diễn vở “Bàn đào Vương Mẫu” và các điệu vũ Nghê thường hết đêm này qua đêm
khác, rồi cùng bạn quý tộc bốn phương tới thưởng lãm thơ ca, trà đạo, quốc họa
Trung Hoa cơ mà?
- Vâng ạ, họ còn lập hội
chơi chim, hội chọi gà, hội tao đàn chuyên ngợi ca chiến tích và họa thơ của
các hoàng đế, các bậc khai quốc công thần…
- Nhục nhã thay!
Nhật Tôn bất giác thốt
lên. Ni cô ngỡ vị hành giả mắng mình thì sợ hãi. Nhưng thấy mình nhầm, cô bèn mạnh
dạn tiếp:
- Nhưng thưa ngài,
không ít người dưới quyền họ phải trốn sang các trang trại của địa chủ mới để
khỏi bị chết đói và thoát phận nô tỳ…
- Họ có thoát được
không?- Nhật Tôn vẻ nóng ruột lo lắng
- Dạ, phần lớn bị bắt
trở lại, bị hành hạ…
- Còn cha con và các nô
tỳ khác?
- Cha con tụ tập mọi
người tới gặp chủ nô, cắt phăng tay áo để lộ chữ “Sát Thát” nhất loạt giơ lên,
kêu to: “Hãy chẩn cấp để cứu sống gia đình chúng tôi!” Trước đó, cha con có nhờ
một nho sĩ không đỗ đạt thảo đơn kêu cứu gửi quan phủ, nhưng tờ đơn được chuyển
ngay về trang ấp…
- Kết cục ra sao?
- Dạ, gia binh của
vương hầu và lính quan phủ thả cửa đàn áp. Nông nô bị lột trần treo lên các xà
nhà của trang ấp, bị đánh bằng côn, gậy trúc, roi ngựa, roi cá đuối…
Ngài nhắm nghiền mắt lại,
khẽ lắc đầu.
- Con đã quỳ lết dưới
chân chủ nô van lạy…
Ngài mở bừng mắt ra:
- Con cứu được cha con
chứ?
Cô gái lắc đầu, ứa nước
mắt:
- Ông bị quy kết là chủ
mưu phản nghịch, một tội tày đình mà “nếu không phải bị trừng trị ở trang trại
thì đưa lên công đường sẽ không được chết toàn thây”. Một quản gia an ủi thế… Mẹ
con uất ức lâm bệnh chết. Lo xong mộ phần cha mẹ, con đưa mấy đứa em tới bà con
xa gửi gắm, rồi tìm đến cửa Phật. Sư thầy đặt cho con pháp danh Diệu Hạnh…
Từ lâu nay, Nhật Tôn
thường tâm niệm: “Muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính”. Vậy mà lúc này ngài cảm
thấy khó kìm giữ được nỗi căm giận thiêu cháy mọi sự tĩnh tâm thiền định hằng
có. Vị thượng tọa nơi đồng nội hết ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Người
khách lạ dáng vẻ uy nghi, trầm tĩnh, thần thái vương giả, trí huệ sáng láng,
thông tuệ kinh điển Tam Tạng không kém một vị cao tăng, nhưng sao lại có khoảnh
khắc chấn động tâm can dữ dội? Ánh mắt như sắp phóng lửa, đôi vai khắc khổ run
lên trong tấm áo gội nắng dầm sương của vị Đầu đà. Rồi cơn tâm chấn cũng mau
chóng lặn vào trong. Lúc đó Nhật Tôn vội vã chào ra về, không muốn vô tình làm
động chốn thiền môn.
Chỉ ngay chiều hôm sau,
ngôi chùa nhỏ lại đón bước ngài. Câu chuyện về ni cô dường làm ngài già thêm cả
chục tuổi! Lại còn chuyện: mấy hôm trước, Quan gia Anh Tông cấp báo cho ngài
năm nay lại mất mùa lớn hơn mọi năm, đói rét hoành hành các làng mạc, đây đó
người chết đói dọc đường. Trong dân, nhất là hàng ngũ gia nô các thái ấp điền
trang nảy nhiều kẻ trộm cướp. Giữa khi có những vương hầu đánh bạc mỗi tiếng bạc
đặt tới hàng chục, thậm chí hàng trăm quan, thì dân có người đã phải bán con
làm nô tỳ để lấy một quan tiền chỉ mua được ba thăng gạo! Dù ngài đã hồi âm
ngay cho Quan gia xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp dân nghèo và miễn thuế
nhân đinh, song đó chỉ là muối bỏ bể! Lòng người ly tán, nỗi oán hận âm ỉ có cơ
loang rộng tận thôn cùng ngõ vắng. Trong lúc đó, phía Bắc, lũ giặc cướp nhà nghề
dù có tìm mọi cách thôn tính lẫn nhau nhưng đều ôm mộng làm bá chủ thiên hạ, vẫn
đang ráo riết chuẩn bị và tiến hành những thủ đoạn thâm độc nhất để khi có dịp
sẽ lập tức ăn tươi nuốt sống giang sơn của ngài.
Phất mạnh cánh tay áo
như để dứt bỏ phiền não, sân hận, Nhật Tôn rảo bước quanh chùa, rồi vào chính
điện, hy vọng tìm được ngay ni cô Diệu Hạnh. Ngài sẽ hỏi cô cho ra nhẽ. Chuyện
cần được sáng tỏ và đi đến chung cục như mọi đại sự quốc gia ngài đã thực thi.
Vương triều đang ở đỉnh cao quyền lực và tinh thần Phật pháp, lẽ nào cứ để
ngang ngược chuyện vô đạo! Và cần trả lại công bằng cho cô gái. Cô đã buộc phải
xuất gia chứ không hề tự nguyện. Cô cần được trả về sống giữa trần thế, với những
gì thiên phú thiên bẩm, và như thế cô mới thực sự là Phật theo cái nghĩa tinh
túy mà Đại tạng kinh ẩn chứa…
Nhật Tôn bắt gặp ni sư
trẻ đang lúi húi sắp xếp hương hoa trong Phật điện gần gũi ấm cúng, giữa ánh nến
lay động. Ngài chợt sững lại. Mọi ý định, mọi điều muốn nói bỗng tan loãng theo
làn hương trầm… Đôi bàn tay tựa búp măng trắng ngà vuốt nhẹ từng cánh hoa. Nét
mặt non tơ hồng hào của trẻ thơ. Cái miệng dù rất nghiêm trang mà sao cứ muốn
cười, muốn hát. Một cánh hoa mai mang làn gió xuân lạc vào giấc mộng. Phật đâu
xa. Cô gái đương hiển hiện là một Quán Âm Bồ Tát. Một sự hoàn hảo thuần khiết
làm lồ lộ nhức nhối thêm những ô trọc nhân gian. Thực đáng dâng hiến máu xương
trí lực để bảo vệ một vẻ đẹp diệu ảo đến vậy của trần thế. Đâu phải thanh sắc
thông thường. Đó là hiện hữu giúp soi tỏ thêm lẽ huyền vi Phật pháp, cái mà bao
thế lực hắc ám cùng âm binh trong và ngoài biên giới đương hoảng sợ tìm cách hủy
diệt…
Chính lúc đó, một tin đồn
đang rần rật khắp chốn lại hiện về thành lưỡi gươm sắc bổ thẳng vào ngài. Trâu
Tôn, một kẻ tự xưng là danh y kiêm đạo sĩ thần thông người Tàu có khả năng chữa
bệnh liệt dương bằng phương thuốc: giết đứa bé trai moi lấy mật hòa uống với
thuốc dương khởi thạch và thông dâm với phụ nữ là chị em ruột. Vậy mà hắn được
không ít bậc thế gia, quý tộc tranh nhau mời đến phủ đệ coi như thượng khách. Hắn
vốn là kẻ đi theo quân Nguyên vào nước ta rồi bị bắt cùng đám tù binh. Hắn ở lại
Đại Việt lấy vợ sinh con, truyền nghề cho con trai nhỏ là Trâu Canh, chữa bệnh
cho các vương hầu, được cấp ruộng và nô tỳ rồi trở nên giàu nứt đố đổ vách. Có
ngôi chùa lớn, dưới sự bảo trợ của vương hầu còn mời hắn về dạy các pháp thuật
phù thủy, bày cách luyện đan trường sinh bất lão. Triều đình đã có chỉ dụ truy
bắt Trâu Tôn, dọa khép tội nặng những ai truyền bá về cách chữa bệnh khủng khiếp
cùng những trò bịp bợm đó, song hắn đã là kẻ “bất khả xâm phạm” nhờ không ít
nhân vật có “máu mặt” trong – ngoài triều. Và tin đồn về thứ “thần dược” ghê sợ
cùng những trò quái đản kia ngày càng len lỏi ăn rễ sâu vào những tâm hồn bạc
nhược mà cơ thể lại sung mãn bởi yến tiệc đàn hát và lòng kiêu ngạo chiến thắng.
Nhật Tôn hơi nhăn mặt lại đau đớn. Một cảm giác ghê tởm hóa thành những cô hồn,
ngạ quỷ dẫm đạp trái tim Phật của ngài… Ngài đâu thể lường nổi: ngót nửa thế kỷ
sau, hậu duệ của ngài là Dụ Tông hoàng đế sẽ mời con trai tên thầy thuốc vô đạo
làm hầu cận thân tín, sẽ áp dụng chính phương thuốc kia và dung túng bao che
cho Trâu Canh làm đủ chuyện ô nhục – điều đó sẽ được ghi lại trong chính sử như
một vết nhơ không thể gột rửa được của triều Trần!…
Giờ đây, nếu đối diện
ni cô, ngài sẽ phải nói gì? Làm sao khỏi chạm vết thương lòng đau nhất của người
phải chứng kiến máu túa ướt đẫm nơi hiệu lệnh đồng tâm diệt giặc của cả dân tộc
hằn sâu trên cánh tay cha mình? Ngài phải giải thích thế nào về cách ứng xử đốn
mạt của kẻ đã từng là “phụ tử chi binh” với cha cô? Ngài phải nhận trách nhiệm
như thế nào về mình? Nếu nghiệp của cô gái là phải trở thành Phật trong chùa
quê, thì một hành động ép uổng nào đó biết đâu chẳng ném cô vào chốn tu hành
khác chỉ diễn các trò phù phép nhằm trục lợi giờ bắt đầu len lỏi khắp Đại Việt?…
Trên đầu cô gái như hiện ra ba quầng sáng mà gần đây ngài thường thấy trong mộng,
biểu tượng cho ba vòng tròn đồng tâm Việt tính – Nhân tính – Phật tính. Phải
làm sao đây cho bách tính hiểu rõ: gốc Việt chỉ được vun đắp và tươi tốt khi
lòng nhân sâu bền, và lòng nhân sâu bền chỉ có thể được duy trì chừng nào Phật
pháp được chăm lo thực sự, đi con đường đúng đắn. Nhưng thế nào là đúng đắn? Nhật
Tôn bỗng hoang mang. Phải chăng triều đại của ngài bắt đầu bước vào thời mạt
chính, cũng có nghĩa là kéo theo thời mạt pháp? Chuông chùa thu không đã vang
lên Bính… Boong… Bình… Boong… Âm điệu đó tựa lời than thở Hỏng… rồi… Nguy… rồi…
Nhưng với ngài trong khoảnh khắc ấy chẳng khác hồi trống ngũ liên báo động thời
chiến trận.
Ni cô vẫn chăm chú công
việc. Hết trong Phật điện lại vào tăng đường, rồi ra sân sau chùa, không hề biết
có người quan sát mình. Kìa, dáng cô quét dọn nơi thanh vắng còn có lúc như nhảy
lò cò – một trò chơi mà xưa kia, có lần ngài thấy trẻ mục đồng ở Tức Mặc đã
chơi. Nhật Tôn lúc nép mình vào lưng tượng Kim cương Hộ pháp, lúc vờ xem tượng
Ananđà hoặc gốc si sần sùi, trộm ngắm nhìn cô mê mải…
Ni cô bất chợt đi tới gần,
ngài vội giơ tay chắp: “A di đà Phật”. Ni cô cúi đầu, chưa hết vẻ e thẹn trinh
nữ trước đàn ông, dù đó là một hành giả. Cô chắp tay: “Mô Phật” tựa một hơi thở
nhẹ rồi lẹ rảo bước. Ngài đã để tuột mất một cơ hội gặp gỡ trực tiếp. Và biết
đâu, đó là cơ hội duy nhất. Trong thoáng chốc, ngài nảy ước muốn chạy theo, nhảy
lên phía trước chặn đường để buộc cô trò chuyện, như một người còn ở tuổi tráng
niên có thể làm; ni cô muốn nghĩ gì thì mặc, hơn nữa, ngài đâu có nét gì của kẻ
ưa sắc dục hoặc lục lâm thảo khấu!
Nhưng ngài chỉ đứng
nhìn theo dường hóa tượng.
Là một hoàng đế – thi
sĩ, ngài đã chứng kiến và ca ngợi bao vẻ đẹp của thiên nhiên, đặc biệt là nơi
thôn trang vùng Thiên Trường. Ngài cũng quá quen thuộc với những cung nữ son phấn,
trang điểm từ gót tới đầu, học đi đứng khuê các… Song tận mắt ngài chưa bao giờ
được thấy một vẻ đẹp thôn nữ đượm phù sa chân chất, không trâm cài, không vòng
ngọc, không điệu đàng mà lại khiến thi hứng dào dạt như bây giờ. Chỉ có điều,
đó không phải là thi hứng của một thái tử đang thời kỳ yêu đương và nghiền ngẫm
đạo lý, binh thư, hay của một ông vua trẻ khoác chiến bào xậm bụi khói.
Này con, người xưa đã
không muốn dẫm lên vết chân đức Như Lai thì con hãy tránh dẫm lên vết chân của
những kẻ giả tu hành, giả Phật, thậm chí họ còn không biết là giả nữa bởi món
ăn của kẻ ngoại lai giàu tham vọng thường làm mê muội nhiều thế kỷ.
Họ mờ mịt như kẻ quay mặt
vào tường, con đừng quan tâm đến họ.
Con hãy làm Phật trên mảnh
đất cấy cày phủ sương đêm, trong ruộng dâu tằm ngút ngát, nơi bến sông trăng đập
vải, và cùng lắm hẵng làm Phật dưới Tam Quan
Dù con có là ai thì non
sông cẩm tú này cũng thuộc về con, con hãy giữ lấy bằng mọi giá, kể cả cái chết.
Đó không chỉ là sự răn
bảo của đấng cao xanh, đó còn là đòi hỏi của bản thể chân thực và thiêng liêng
của con trong kiếp này- điều ấy sẽ tạo ra chính mệnh(4).
Như thế cũng có nghĩa
là con sẽ thoát khỏi ma-giới mà bước vào
Phật-giới.
Và có điều ta cần nói, coi như thay lời trăng trối xót xa của
cha con:
Hãy làm mọi điều để hai
chữ “Sát Thát” thích sâu trên cánh tay cha khỏi trở thành hư không và biến
thành trò đùa cợt của những kẻ chỉ quý miếng ăn và địa vị của bản thân mình…
Khi cơn sóng thi hứng
chưa lắng lại, cặp mắt của vị hoàng đế – thiền sư đã chợt nhòa lệ. Rất có thể
đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng ngài khóc ra nước mắt.
Người ghi lại câu chuyện
này không rõ Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông có trừng trị vương hầu vô đạo kia
và tìm cách đưa cô gái trở về với đời thường hay không, nhưng đoan chắc một điều:
cuộc gặp gỡ gần như “vô ngôn” với ni cô Diệu Hạnh trong một ngôi chùa quê đã là
giọt nước làm tràn cốc nước, khiến ngài có một quyết định chấn động triều đình
và thiên hạ. Ở tuổi ngoại tứ thập, sau khi đã “thận trọng trước sự răn bảo của
trời, làm hết phận sự của người” như sử gia Ngô Sĩ Liên đời sau bình luận, ngài
rời bỏ tất cả, thượng sơn tới một vùng cao ngất, hoang sơ và nguy hiểm phía
Đông Bắc là núi Yên Tử để tiếp tục tu hành. Ngài thực hiện cái di nguyện của
ông nội Thiền sư Trần Thái Tông. Cũng là ước nguyện của ngài tự thuở hoa niên…
Ngài đã mở ra một dòng mới của đạo Phật, thâm sâu, thuần Việt – dòng Thiền nhập
thế Trúc Lâm Yên Tử, và trở thành vị Vua-Bụt duy nhất của nước ta. Lý do sâu xa
của hành trạng đó, dù đã có nhiều bậc trí giả xưa nay dày công nghiên cứu giải
thích, nhưng cho đến bây giờ vẫn còn là một bí ẩn lớn.
___________________________________
1. Long Hưng thuộc Thái
Bình, Tức Mặc – Thiên Trường thuộc Nam Định, Vũ Lâm thuộc Ninh Bình.
2. Tu hạnh Đầu Đà là tu
theo các công thức: ở nơi hoang vắng, ăn ít, ăn một bữa, mặc áo rộng, luôn ngồi
chẳng nằm…Và đặc biệt với Trần Nhân Tông là tu theo tư tưởng trọng đạo nghĩa,
lánh thị phi, ghê thanh sắc, sống cuộc đời thanh đạm, nhàn tản vô vi…( Cư trần
lạc đạo phú )
3. Giới (Biết điều răn
cấm để không phạm lỗi lầm), Định (Không để tâm trí bị tán loạn), Tuệ (Trở nên
sáng suốt) – theo Phật giáo, đó là tiến trình để đạt tới sự giác ngộ.
4. Tức lòng dạ ngay thẳng
không lừa lọc. Là một trong những phép của Bát chính đạo (Đạo đế), thuộc Tứ diệu
đế – lý thuyết cứu khổ của đạo Phật.
Hà Nội, cuối đông 2012
Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013
TÍNH DÂN TỘC TRONG ĐIỆN ẢNH PHẢI CHĂNG LÀ MỘT THỨ XA SỈ PHẨM ?
Đạo diễn-nhà văn NGUYỄN ANH TUẤN
Nhân Hội thảo: Tính
dân tộc trong phim truyện VV(Tại Hà Nội, 30-8-2013)
Tôi
phải xin lỗi trước với một tiêu đề như vậy- đó là một cách để bản thân tôi
tránh xa những người thường mang cái gọi là “Tính dân tộc trong Đ/Ả” ra làm
khiên che, làm bùa hộ mệnh cho những yếu kém trong tác phẩm của mình, tệ hơn là
lấy nó làm “ông ngáo ộp” dọa người khác. Điện ảnh là một ngôn ngữ quốc tế, và
nói như nhà điện ảnh học người Pháp Georges Sadoul: “là quan trọng nhất trong
các nghệ thuật, đồng thời cũng là phổ cập nhất, tại các nước XHCN cũng như tại
các nước tư bản CN” (LSĐA thế giới, NXB Ngoại văn & Trường ĐHSK-ĐA HN- trg
7). Nhưng phổ cập nhất, cũng có nghĩa nó cũng mang ở nội hàm của nó tính dân tộc
khi phim nói tiếng của chính cái nơi mà phim được sản xuất-phát hành…
Hồi
mới về Xưởng phim truyện VN (sau thành Hãng PTVN) hành nghề, một trong những ấn
tượng sâu sắc nhất của tôi là khi xem một bộ phim chiếu bản đầu tại cơ quan (tức
là bản phim positif vừa hoàn thiện còn “tươi dãy đành đạch”, bản chưa phát
hành): phim “Bao giờ cho đến tháng mười” của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Tới đoạn
nhân vật Duyên (Ái Vân đóng) xem hát chèo “Trương Viên” trong sân đình, khi
Trương Viên chia tay dặn dò người vợ để rồi sau đó cùng các trai tráng lên đường
chống giặc, tôi đã không cầm được nước mắt. Lúc đó, nếu ai thuyết phục tôi rằng:
cảnh gây xúc động đó là một thành công đặc biệt của tính dân tộc, tôi sẽ tin
sái cổ. (Và hồi đó, bên cạnh những lùm xùm gây khó dễ cho tác giả phim là “đã
tuyên truyền mê tín dị đoan” khi đưa lên màn ảnh phiên chợ Âm Dương”- cũng là một
thứ dân tộc tính!- thì những lời khen phim tràn ngập cũng chủ yếu xoáy sâu vào
“Tính dân tộc” của bộ phim). Nhưng với năm tháng, suy xét lại, tôi thấy rằng
cái hay cùng những thành công của bộ phim này đâu phải là do “Tính dân tộc” mà
người ta đã gán ghép một cách ép uổng! Người xem nước ngoài phần lớn đâu có hiểu/
thích chèo cổ VN, phiên chợ Âm Dương của đất Kinh Bắc…, nhưng sao họ thích thú,
và đánh giá bộ phim trên là một trong 10 phim hay nhất của Châu Á thế kỷ XX? Đoạn
trích chèo cổ đó thực ra đã được tác giả tính toán kỹ lưỡng, có sự chuẩn bị chu
đáo từ trước và đưa vào đúng chỗ, để nó trở thành một tình tiết hữu cơ &
quan trọng của đường dây câu chuyện – xung đột phim, khiến người xem tới lúc đó
hoàn toàn đồng cảm với tâm trạng & hoàn cảnh của nhân vật chính (Duyên).
Khi ấy, tiếng hát nghẹn ngào của diễn viên chèo (dù âm thanh phim hồi đó rất tồi),
áo mớ bảy mớ ba, giọt nước mắt chia ly của người đi người ở lại… mới có thể góp
thêm ngọn gió đưa cảm xúc người xem phim bay lên!…
Trong
phim của ta mấy chục năm qua, không hiếm những bộ phim hoành tráng có những yếu
tố hình thức hứa hẹn về “Tính dân tộc” cũng hoành tráng chẳng kém, thế nhưng
khi xem xong, đa số người xem ngẩn ngơ: Ừ, đúng là có nhiều nét dân tộc thật,
song tại sao ta không thấy xúc động, không lưu lại được điều gì để ngẫm nghĩ?
Tôi
xin phép dẫn vài ví dụ.
Bộ
phim “Mê thảo- thời vang bóng” (đạo diễn Việt Linh) đúng là “chuột sa chĩnh gạo
dân tộc” nhé: ở đó có những phụ nữ mặc váy yếm, những điệu hát ca trù, những
chiếc đèn giời, sinh hoạt của giới địa chủ, nghề làm tơ tằm, những cuộc biểu diễn
nghệ thuật truyền thống (mà cảnh trò vợ trẻ cõng chồng già sẽ còn gây được hiệu
quả ít nhiều nếu như nó không từng bị nhàm chán vì lạm dụng trong một phim lịch
sử cách đây mấy chục năm!)… Quả là một cuộc triển lãm dân tộc học tưng bừng về
Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX! Nhưng xem xong phim, nhiều người thấy thiêu thiếu một
cái gì… Hóa ra, cái thiếu đó chính là ngọn lửa ở bên trong tác phẩm, là thái độ
ngay thẳng bênh vực con người, là cái thông điệp về nhân sinh ngầm sâu mà những
người làm phim cần gửi đến người xem qua hàng loạt những hỉ, nộ, ái, ố, những cảnh
sắc, những trang phục và diễn xuất… Cảm giác bao trùm đối với nhân vật chính
trong gần hết bộ phim là một sự ghê rợn, kinh sợ bởi những hành động chẳng ra
người chẳng ra thú. Người xem buộc phải trở lại câu hỏi day dứt: vậy bộ phim được
làm ra để làm gì? Cả một bộ phim tốn kém dài hơn trăm phút không lẽ chỉ nhằm
đưa ra một lời khuyến cáo đơn giản sau cùng và cũng đầy khiên cưỡng: “mọi sự mê
muội đều phải trả giá”? Tiếng hát ca trù của cô Tơ cùng tiếng đàn “chảy máu năm
đầu ngón tay” của quản Tam dù có rung động lòng người dẫn đến cái chết cứu mạng
ân nhân của Tam cũng không giúp gì nhiều cho phim khi phim đã không có cái cột
trụ vững chắc là một tư tưởng nghệ thuật sâu sắc.
Hay
như phim “Đất nước đứng lên” (đạo diễn Lê Đức Tiến). Phụ nữ Tây Nguyên thời đó
thường ở trần, theo phong tục, và cũng bởi nghèo túng; nhưng ở trong bộ phim
này, những phụ nữ trẻ để trần lộ cả hai bầu vú đầy đặn lại được mặc những chiếc
váy mới có thêu hoa văn rất đẹp. Dân tộc tính quá chứ gì? Bộ phim còn đầy ắp những
chi tiết phong tục, thừa thãi những cảnh quay về sinh hoạt văn hóa dân gian;
song chúng ít được gắn với những tâm trạng, những cảnh huống kịch tính, những số
phận cụ thể, và chính vì thế cái ấn tượng ôm đồm, tham lam, phô bày một cách cố
tình lại càng nổi cộm trong khán giả (Ví
dụ tiêu biểu nhất là đoạn những bức tượng nhà mồ được gom lại và được ống kính
máy quay miêu tả như một cuộc triển lãm tượng!) Khi người xem được thông tin rằng
(chỉ bằng một lời thoại): địch có âm mưu sẽ lấy hết dụng cụ lao động bằng sắt của
nguời Kông Hoa, thì liền sau đó được xem những cảnh chặt cây cổ thụ bằng đá sắc
cạnh! Địch có phép thần thông biến hóa hay sao mà người dân Kông Hoa di chuyển
lên núi đựợc an toàn kể cả mọi vật dụng gia đình nhưng lại không giữ nổi các đồ
dùng lao động bằng sắt- vật dụng có ý nghĩa sống còn đối với người dân miền
núi?! Nếu các nhà làm phim có ý định thần thánh hóa kẻ địch thì cũng nên dành
vài mét phim để thỏa mãn óc tò mò của khán giả và tăng thêm yếu tố ly kỳ bên cạnh
tính dân tộc đã đậm đà sẵn (ví như cho tên quan ba Pháp đọc câu thần chú chẳng
hạn!!!) Ngay sau những cảnh quay mô tả kỹ lưỡng việc chặt cây rừng bằng đá với
những bàn tay bật máu ra sao, người xem thấy xuất hiện lừng lững một ngôi nhà
rông khổng lồ với những tấm ván xẻ cỡ lớn- có quay đặc tả. Điều phi lý như vậy
cũng xảy ra khi người làm phim cho các diễn viên đóng lính Tây cứ tập trung vào
một chỗ để dân làng Kông Hoa tha hồ bắn, giết cho hả dạ. Đánh Tây, giết Tây ở một
vùng Tây Nguyên thời ấy dễ như thế sao? Hay người làm phim cho rằng để xây dựng
lên một huyền thoại về những người dân Tây Nguyên anh hùng thì chẳng cần đếm xỉa
đến tính hợp lý, đến sự thật, kể cả sự cảm thụ của người xem bình thường, và
như vậy mới làm tăng thêm tính dân tộc? Giữa núi rừng Tây Nguyên trùng điệp và
âm thanh của cồng chiêng, giai điệu trữ tình mang bóng dáng đồng bằng Bắc Bộ của
một bài hát rất hay như “Bộ đội về làng” (nhạc sĩ Lê Yên) bỗng trở nên vá víu,
lạc lõng đến tội nghiệp! Ai dám bảo hai bộ phim kể trên thiếu “Tính Dân tộc”?
Thế nhưng sự thừa thãi dân tộc tính kiểu như thế, theo thiển ý của tôi, thì
tính dân tộc đúng là một thứ xa xỉ phẩm của Điện ảnh!
Vấn
đề “Tính dân tộc trong ĐẢ” qua việc làm phim ( và các hội thảo về phim) của ta
lâu nay thường vẫn cứ bị đánh lộn sòng, bị thả hỏa mù như vậy; trong khi đó,
cái người xem cần không phải là những cuộc trưng bày “mãn nhãn” về dân tộc, mà
là một cái nhìn mới, một cảm xúc mới sau khi màn hình hiện lên chữ Hết phim.
Như thế, yếu tố dân tộc trong phim thể hiện qua bối cảnh, phục trang, hóa
trang, lễ hội… xét cho cùng chỉ góp phần vào chất “kỳ” (ésotique), chỉ là yếu tố
phụ trợ, đứng sau những yếu tố nội dung- tư tưởng của phim, chúng được nhà làm
phim xử lý một cách nghệ thuật- qua cấu trúc phim, lý giải nhân vật, chi tiết đời
sống chắt lọc, v.v. Hay nói chính xác hơn, cái được gọi là “tính dân tộc” đó phải
chìm lặn tự nhiên trong tâm lý tính cách nhân vật có sức thuyết phục, trong các
tình huống phim được thiết kế hợp lý. Một cảnh phim, chứ chưa nói đến cả một bộ
phim, để người xem có thể chấp nhận, ít nhất phải chứa đựng tính chân thực của
đời sống; còn tính dân tộc – nếu có, thì cũng bắt buộc phải mang yếu tố phổ
quát có tính nhân loại. Những bộ phim kinh điển thế giới như: Chiến hạm
Pachômkin, Người thứ bốn mốt, Đàn sếu bay (Nga), Kẻ cắp xe đạp, Rôm lúc 11 giờ,
Anh em nhà Rôccô (Ý), Sự ra đời của một quốc gia, Cuốn theo chiều gió, Công dân
Kên (Mỹ), Ratsômông, Đảo trụi (Nhật), Cái sừng dê (Bungari), Nhạc trưởng (Ba
Lan)…; hoặc gần đây nhất là những phim được trao giải thưởng Oscar của Viện Hàn
lâm Khoa học-Nghệ thuật ĐẢ Hoa Kỳ, Cành Cọ Vàng của LHP Cannes như: The King’s
Speech (Diễn văn của nhà vua), The Artist (Nghệ sĩ ), The Tree of Life (Cây đời),
v.v. khi làm ra đâu có cần đến khẩu hiệu “Nâng cao tính dân tộc trong phim” để
có thể chinh phục hàng bao thế hệ khán giả khắp thế
giới ?!
Hà Nội, tháng 8-2013
Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013
CÂY PIANO MÀU HUYẾT DỤ*
Nhiều năm trước, khi còn là một thanh niên hai mươi tuổi, tôi làm nhân viên bán hàng cho một công ty bán đàn piano tại Saint Louis. Chúng tôi bán piano tới tất cả các tiểu bang bằng cách đăng quảng cáo trên các tờ báo của các thị trấn và sau khi nhận được đủ số trả lời đặt hàng, chúng tôi chất đàn lên xe tải, chở đi bán cho những người đã trả lời mua.
Cứ mỗi lần đăng lần quảng cáo tại vùng trồng bông ở Đông Nam Missouri, chúng tôi lại nhận được một trả lời của một bà già trên một tấm bưu thiếp: "Hãy chở đến đây một cây piano mới, màu huyết dụ, cho cháu gái nhỏ của tôi. Tôi có thể trả góp mỗi tháng 10 dollars tiền tôi bán trứng gà”. Bà già viết nguệch ngoạc kín tấm bưu thiếp, sau đó lại còn lật sang viết kín mặt trước và xung quanh rìa, chỉ chừa ra một chỗ vừa đủ để ghi địa chỉ.
Tất nhiên, chúng tôi không thể bán một cây piano với giá 10 dollars một tháng. Không một công ty tài chính nào sẽ buồn thực hiện một hợp đồng với các khoản thanh toán cỏn con như vậy, vì thế chúng tôi lờ những tấm bưu thiếp của bà già đi.
Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013
NGÔI NHÀ VÀ TIẾNG ĐÀN DƯƠNG CẦM
Tôi bảo hoạ sĩ Trịnh Tú, hồi nhỏ tôi hay đi qua phố nhà anh. Ấy là bởi đường tàu điện tuyến Bưởi từ Bờ Hồ đi dọc theo phố Quán Thánh. Tôi hay đi tuyến này đến cơ quan của bố mẹ.
Bữa đó, chúng tôi ngồi uống khuya hơn mọi bận, giáp noel, trời lạnh, càng khuya càng lạnh. Ngồi dài thế chả phải là để uống nhiều, chúng tôi không ai bảo ai, đều nhấp chầm chậm, đợi nghe hồi chuông nguyện nửa đêm bên nhà thờ Cửa Bắc vọng sang.
Thấm thoát đã gần nửa thế kỷ. Năm 1968, ngôi nhà 108 Quán Thánh bị trúng bom B52, sập hết. Chả hiểu sao chỉ bộ bàn ghế này, cái be rượu sành và cây đàn dương cầm là gần như còn nguyên vẹn. Bộ bàn ghế, thiết kế kiểu art-décor, Á Âu kết hợp nay đã là đồ gia bảo. Một tác phẩm đặc trưng của Memo, hãng Furniture từ thời thuộc Pháp của hoạ sĩ Trịnh Hữu Ngọc (phụ thân anh Trịnh Tú).
Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013
SỰ THẬT VỀ BAN NHẠC HUYỀN THOẠI TÀU TITANIC
Phần lớn người ta đều biết 2 điều về những nhạc công của tàu Titanic. Họ chơi bản "Nearer, My God, To Thee", khi con tàu gãy làm đôi và tất cả đều trượt chân khỏi sàn tàu, rơi xuống làn nước biển lạnh giá ở Bắc Đại Tây Dương cùng với con tàu. Khi lễ kỷ niệm 100 năm ngày xảy ra thảm họa chìm tàu Titanic tới gần, đã có thêm thông tin mới liên quan tới những con người dũng cảm này được hé lộ ra cho dư luận biết.
Ban nhạc đã chơi trên tàu Titanic gồm có 8 người, nằm dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh Wallace Hartley.
Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013
MÌNH THẬT VÔ DUYÊN KHI LÀM THƠ
Là
bản tình ca với những nốt nhạc lòng bay bổng
Là những phím đàn trắng đen tràn đầy hy vọng
Là những dòng nhật ký, những kỷ niệm thời thơ ấu mộng mơ
Mình chưa bao giờ viết được một vần thơ
Vậy mà một ngày kia bỗng trào dâng cảm xúc
Một sự vô tình bỗng trở nên hiện thực
Họa thơ ai, niềm thao thức với trăng mơ
Họa thơ ai, niềm thao thức với trăng mơ
Nocturne N.20 in C sharp Minor của Frédéric Chopin
Nocturne No. 20 cung Đô thăng thứ được Frédéric Chopin sáng tác năm 1830 còn có thể gọi
là bản là nocturne xa xứ , vì ông viết bản này trước khi rời đất nước
Ba lan ngày 2 tháng 11 năm 1830, và mãi mãi không quay trở lại. Tuy theo danh mục
xuất bản nó mang số 20 (No. 20), nhưng thực ra đây là bản Noctune thứ hai cách
nocturne thứ nhất (op.72 cung Mi thứ - E Minor) khoảng từ 1- 2 năm, sau khi
Chopin qua đời, năm 1870 bản dạ khúc này mới được xuất bản.
Nocturne
No. 20 cung Đô thăng thứ mở đầu bằng một đoạn ngắn phần giới thiệu, giai điệu chậm rãi, trang nghiêm, u buồn, sầu não. Tiếp theo, chủ đề
chính u sầu được trình bày với những nốt láy duyên dáng, gợi nhắc không khí
tĩnh mịch của đêm tối. Và, bầu không khí xúc cảm dần dần sáng sủa hơn nhưng vẫn không thể nào xua tan
được tính chất hoang vắng cô liêu mà
giai điệu mở đầu tạo thành. Chủ đề chính trở lại ở nửa sau bản nocturne nhưng
giờ đây nó day dứt hơn. Nỗi buồn dần trở thành nỗi thất vọng tràn trề khi âm nhạc
dịu dàng tắt lặng kết thúc tác phẩm.
Bản Nocturne này đã được chọn sử dụng làm nhạc nền cho phần đầu và lúc kết
thúc của bộ phim The Pianist nổi tiếng do đạo diễn người Ba lan Roman Polanski
dựng thành phim dựa trên cuốn hồi ký cùng tên của nghệ sĩ dương cầm Ba lan gốc
Do thái Wladyslaw Szpilman, người may mắn sống sót trong đợt tàn sát người Do
thái của phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai.
Và đây là phần trình bày của Władysław "Wladek" Szpilman (1911 - 2000) - nghệ sĩ dương cầm và nhà soạn nhạc cổ điển người Ba lan gốc Do Thái. Władysław "Wladek" Szpilman được biết đến rộng rãi khi bộ phim “The Pianist” ( Nghệ sĩ dương cầm) năm 2002 do Roman Polanski làm đạo diễn dựa trên cuốn hồi ký "The Pianist" kể lại sự tồn tại của ông trong thời gian Đức chiếm đóng Warsaw và Holocaust được phát hành. Nhưng khi bộ phim được công chiếu thì ông đã không còn nữa.
Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013
Ký ức tuổi thơ: Những ngày sơ tán
Tôi nhớ
không nhiều những kỷ niệm mỗi lần theo bố mẹ đi sơ tán , vì tôi còn nhỏ,
theo mẹ tôi kể lại thì chúng tôi đã theo bố mẹ đi nhiều nơi: Bưởi, Cổ nhuế,
làng Trích sài, Quốc oai, Đ. yên và đợt bom B52 năm 1972 là ở Tiên Sơn - Bắc
Ninh.
Làng Đ. Yên là quê ngoại tôi,
một vùng quê nghèo, thanh bình, yên ả, cách Hà nội chỉ hơn 30km, thời kỳ sơ tán
ở Đ.Yên là thời kỳ có nhiều dấu ấn sâu đậm trong ký ức một đứa bé
chuẩn bị vào lớp 1 như tôi.
Ấn tượng khó quên nhất của tôi là những
nụ cười thân thiện, hồn hậu chất phác của các cô , các bác trong thôn với lời chào mẹ tôi "Chào cô N, cô về quê ạ" cứ râm ran suốt từ ngoài cổng làng…khi cả nhà tôi lếch thếch kéo nhau về quê, lủng củng đồ đạc, tay nải quần áo nhếch nhác, tôi và chị gái nắm chặt tay nhau ngơ ngác nhìn hai bên đường làng...Tôi ngắm nhìn họ,
những gương mặt hiền lành, chân chất , dễ
mến làm tôi bất giác cười theo, mệt mỏi tan biến, và thế là tôi cùng
chị tôi, 3 anh trai bắt đầu chạy tung tăng trên con đường làng vương đầy rơm,
phân bò, vảng vất mùi khói rạ cay cay, man mác khó tả…
“Ngôi nhà” chúng tôi ở là Nhà thờ tổ,
nằm lọt thỏm giữa những cây nhãn cổ thụ, trông âm u, tịch mịch, tiêu điều
làm tôi bỗng dưng liên tưởng tới trang trại Fơcdin của ông Rochexto trong
cuốn tiểu thuyết Jane Eyre của Charlotte Brotee mà mẹ và anh trai cả của
tôi thường xuyên đọc và thảo luận. Những con đường nho nhỏ quanh làng, lúc nắng
thì bụi, mưa thì bùn nhão nhoét, cây đa cổ thụ, cao, thân chắc cong queo như một
con rắn khổng lồ hiên ngang đứng ngay bên dốc ngã ba, một bên ra cánh đồng mênh
mông toàn sắn, một bên ra Quáng hùm – nghĩa trang của dòng họ Lê…. Mẹ tôi vốn
là cháu cụ Án – địa chủ làng Đ.Yên, một địa chủ có lòng nhân ái, có công với
cách mạng, năm 1945 cụ đã cứu sống nhiều người qua khỏi nạn đói... Mãi sau này,
khi lớn lên, tìm hiểu về gia phả bên ngoại, cùng với những câu chuyện kể về bà
ngoại tôi - một nàng dâu hiền lành nhưng vô cùng bất hạnh vì bị bà Trẻ (mẹ kế của chồng) hành hạ, cuối cùng chết trong cô đơn, bệnh tật sau khi sinh mẹ
tôi chưa đầy 6 tháng...bà Trẻ đã sai người chôn bà ngoại tôi giữa
cánh đồng trũng cách xa làng, không cho chôn trong khu nghĩa địa của dòng
họ... tôi mới hiểu vì sao mẹ
chúng tôi lại được mọi người thương yêu đến vậy…
Thời đó dân làng Đ.Yên nghèo đói lắm,
người ta phải lấy lá sắn muối chua rồi ăn với những củ sắn …cánh đồng làng xanh một màu sắn, khoai, lác đác mới có ít lúa tô điểm thêm để hoàn thiện bức ký họa tổng quát về sự ảm đạm, gian khổ, thiếu thốn trăm bề của làng quê miền bắc trong thời kỳ chiến tranh.
Chúng tôi là dân sơ tán, nên các chế
độ có đầy đủ theo tiêu chuẩn tem phiếu…Nhưng cái cảm giác không bao giờ quên
trong đời tôi suốt thời gian đó là cảm giác ĐÓI, luôn luôn đói, mặc dù bố
mẹ chúng tôi thường xuyên tiếp tế gạo và thức ăn từ Hà nội.
Bố mẹ chúng tôi sau khi đưa các con
về quê, đã quay lại Hà nội, bà nội tôi về chăm sóc 5 anh em. Bà nội tôi là điển
hình của một phụ nữ thời phong kiến: rất khó tính và nghiêm khắc , trước khi ăn
cơm phải khoanh tay mời hết mọi người mới được cầm bát lên ăn, tôi bé nhất, nên
phải mời nhiều nhất…và đến khi mời xong xuôi thì bữa cơm đã gần xong, nên hầu như chẳng bao giờ tôi có cảm
giác no trong bụng cả.
Tôi và chị gái được bà nội phân công đi nhặt lá về nấu
cơm. Sáng sáng, hai chị em tha thẩn quanh khu vực Quáng hùm – lúc đó bạt ngàn
cây trẩu, những cây trẩu không cao lắm, những chiếc lá đủ hình dạng, cái hình
trái tim, cái thì có nhánh chĩa làm ba, và,
khi đã lọt vào khu “rừng” trẩu đó thì dường như lạc vào một khung cảnh thiên nhiên huyền ảo
mê hoặc , không một ánh nắng mặt trời nào chiếu qua , thật kỳ bí và hùng vĩ
trong con mắt trẻ con của tôi lúc đó…hai chị em vừa nhặt lá trẩu, vừa tưởng tượng
những câu chuyện “ma” mà các anh trai hay kể dọa hai chị em mỗi khi không nghe
lời…
Một hôm, lớp tôi được nghỉ học (tôi mới vào lớp 1, cô Hội
chủ nhiệm bị ốm), tôi lững thững về nhà, cất cặp sách vào ngăn kéo, tôi chợt
nhìn thấy nồi cơm trong góc nhà, nhìn quanh không có ai…cơn Đói của tôi bỗng
dưng làm tôi chạy đến mở ngay nắp…và bốc vội những miếng cơm nguội ăn lấy ăn để…Ôi,
lúc đó tôi thấy thỏa mãn đến thế, sung sướng đến thế…Bỗng, một tiếng nói
cất lên: “ Ai cho ăn vụng? ngày mai bà mách cô Hội đấy!...”
Tôi giật mình, miếng cơm nguội rơi lả tả xuống đất, và thế là tôi khóc, tôi khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc vì tủi thân, vì oan ức, vì chẳng có bố mẹ ở bên cạnh …Nhưng, cũng kể từ khi đó bà tôi đã thay đổi…
Tôi giật mình, miếng cơm nguội rơi lả tả xuống đất, và thế là tôi khóc, tôi khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc vì tủi thân, vì oan ức, vì chẳng có bố mẹ ở bên cạnh …Nhưng, cũng kể từ khi đó bà tôi đã thay đổi…
Chiến tranh, chiến tranh đã làm đảo lộn tất cả, những nếp sống hàng
ngày, những thưởng thức vô cùng đơn giản của
một bữa ăn no bụng, thay vào đó là những cuộc chạy xuống hầm trú ẩn
tránh bom…
Nhưng, gia đình tôi vẫn may
mắn vì cả nhà đều bình an trong cuộc chiến này….
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

