Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Первая любовь, любовь последняя (Tình yêu đầu tiên, tình yêu cuối cùng)

Mузыка: Виктор Дробыш; Cлова: Виктор Дробыш, Слава ( Анастасия Сланевская)
Ви́ктор Я́ковлевич Дро́быш ( Viktor Yakovlevich Drobysh ; 1966) là nhạc sĩ người nga,  nhà soạn nhạc và sản xuất âm nhạc Nga, nghệ sĩ được vinh danh của Liên bang Nga năm 2010.
Bài hát Первая любовь , любовь последняя (Tình yêu đầu tiên, tình yêu cuối cùng) do Drobysh  sáng tác năm 2013, được 2 nữ ca sĩ chênh lệch nhau 32 tuổi song ca là: Слава (Анастасия Сланевская) - Slava (Anastasia Slanevskaya) sinh năm 1980 tại Moscva và Ирина Александровна Аллегрова  (Irina Alecsandrovna Allegrova) sinh năm  1952 tại Rostov . Dù chênh lệch tuổi tác vậy, nhưng hai giọng hát dường như sinh ra để hát với nhau vậy, vì giọng hát của họ rất hợp nhau và càng nghe càng hấp dẫn….

Жизнь в лицо кидалась грязью
Я запутанная связью
Перед Богом страх уже не сдерживал
Ангел не ругал, но не поддерживал
Ангел не ругал
Зря удерживать не стала
Гордость женская взыграла
Отпустила и разлука в дом вошла
Ты - моя любовь последняя была
Ты - моя любовь
Хочешь - пойми, сможешь - прости
Припев:
Первая любовь , любовь последняя
Нежная и пошлая, а теперь лишь прошлое
Только от неё мне не найти спасения
Как небес пророчество, гордость и терпение
Пропасть в одиночество, совпадение


Кто сказал, что время лечит
Но день ото дня не легче
Протекает жизнь дождями горьких слез
Горьких слёз

Первую любовь не приняла всерьез
Первую любовь
Хочешь - пойми, сможешь - прости

Припев:
Первая любовь , любовь последняя
Нежная и пошлая, а теперь лишь прошлое
Только от неё мне не найти спасения
Как небес пророчество, гордость и терпение
Пропасть в одиночество,совпадение

Первая любовь , любовь последняя
Нежная и пошлая, а теперь лишь прошлое
Только от неё мне не найти спасения
Как небес пророчество, гордость и терпение
Пропасть в одиночество, совпадение

Кто сказал, что время лечит

Tình yêu đầu tiên, tình yêu cuối cùng
Nhã Lan  dịch
 Có lúc phải đối mặt với những điều tệ hại
 Em bị vướng vào không lối thoát
 Trước mặt Chúa em vô cùng lo sợ
 Thiên thần không trách mắng, nhưng cũng chẳng khuyên răn
 Thiên thần không trách mắng

 Nhưng điều đó không đáng bận tâm
 Niềm kiêu hãnh nữ nhi trỗi dậy
 Em ẩn trốn trong ngôi nhà, xa lánh
 Anh - tình yêu cuối cùng của em
 Anh- tình yêu của em

 Anh muốn - cứ hiểu, nếu có thể - cứ xin lỗi

  Điệp khúc:
  Tình yêu đầu tiên, tình yêu cuối cùng
  Nhẹ nhàng dịu êm, nhưng giờ đây đã là quá khứ
  Chỉ có điều em  không thể giải thoát khỏi mối tình này
  Như lời tiên tri của trời, niềm kiêu hãnh và chịu đựng
  Một cuộc chiến đơn độc chỉ có một mình em

  Ai đó nói thời gian sẽ xoa dịu tất cả
  Nhưng ngày qua ngày không  dễ dàng hơn
  Cuộc sống qua đi trong những cơn mưa nước mắt cay đắng
  Những giọt nước mắt đắng cay

 Em đã không giữ được  mối tình đầu
 Mối tình đầu tiên
 Anh muốn - cứ hiểu, nếu có thể - cứ xin lỗi

  Điệp khúc:
  Tình yêu đầu tiên, tình yêu cuối cùng
  Nhẹ nhàng dịu êm, nhưng giờ đây đã là quá khứ
  Chỉ có điều em  không thể giải thoát khỏi mối tình này
  Như lời tiên tri của trời, niềm kiêu hãnh và chịu đựng
  Một cuộc chiến đơn độc chỉ có một mình em

  Tình yêu đầu tiên, tình yêu cuối cùng
  Nhẹ nhàng dịu êm, nhưng giờ đây đã là quá khứ
  Chỉ có điều em  không thể giải thoát khỏi mối tình này
  Như lời tiên tri của trời, niềm kiêu hãnh và chịu đựng
  Một cuộc chiến đơn độc chỉ có một mình em

 Ai đó nói thời gian sẽ xoa dịu tất cả


Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Polonaise cung La thứ của Michał Kleofas Ogiński (1765-1883)

      Mình nhớ ngày còn học phổ thông, cả Hà nội rung động với tiếng đàn Violin của cậu bé 8 tuổi trong bộ phim “Bản nhạc Polonaise”, tiếng đàn cứ như những lời tâm sự, réo rắt, đi sâu vào tâm hồn người nghe. Thời gian đó cuộc sống chưa bị công nghệ hóa, người dân Thủ đô còn sống khá đơn giản, nhưng nét đặc trưng của người Hà nội luôn ẩn hiện  trong từng con hẻm, góc phố, trong sinh hoạt cộng đồng, trong lời nói, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười…Mình nhớ hồi đó mình cùng các anh chị lớp trên, các bạn cùng khối cứ từng nhóm chụm lại bàn tán sôi nổi nội dung bộ phim, và hát lại giai điệu bản nhạc này vô cùng say mê. Mình mong có ngày được xem lại bộ phim này. Bản nhạc Polonaise đã theo mình trong suốt những năm tháng học trò và đến tận bây giờ,  mình vẫn thuộc lòng giai điệu và không thể quên được hình ảnh cậu bé 8 tuổi đó trong phim.
      Michael Kleofas Oginski (1765-1883)  sáng tác bài Polonaise, còn gọi là " Tạm biệt tổ quốc)"(Farewell to Fatherland)  vào năm 1823 khi ông 58 tuổi, đang định cư tại Ý. Ông vốn là một hoàng tử của Polish-Lithuanian Commonwealth (Thịnh vượng chung Ba lan - Litva), một quốc gia nhỏ  bị Russia (Nga), Prussia (Phổ) và Austria (Áo) xâm lược, chia cắt và bị biến mất trên bản đồ thế giới. Cuộc đời ông là những chuyến lưu vong các nước,  đã từng  là một  chiến sĩ cách mạng,  nhà ngoại giao,  rồi còn làm  thượng nghị sĩ cho Nga Hoàng. Ông cũng là nhà soạn nhạc , đã sáng tác nhiều bản Polonaise, điệu nhảy Ba Lan, nhưng được soạn để nghe chứ không phải để khiêu vũ. Ông được coi là cha đẻ của dòng piano Ba Lan và có ảnh hưởng lớn tới nhà thơ trên cây đàn piano, thiên tài F.Chopin trẻ tuổi.
Phần trình bày dưới đây do dàn nhạc giao hưởng Trường Âm nhạc Jazeps Medins Riga thể hiện


Mình thích nghe trên piano, và đang tập theo video này. Nghe bài này chẳng bao giờ chán, và thật thú vị khi nghe chính mình chơi trên piano...

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Paroles Paroles (Những lời mê hoặc)

Nhạc: Gianni Ferrio; Lời: Leo Chiosso và Giancarlo Del Re
Bài hát Parole Parole là bài hát Ý đã được phát hành vào năm 1972, nhưng giới yêu nhạc trên thế giới chủ yếu biết bài này qua tiếng Pháp (Paroles Paroles), qua phần diễn đạt của ngôi sao ca nhạc Dalida với thần tượng điện ảnh Alain Delon.
Nhạc sĩ Gianni Ferrio là người đã soạn ra giai điệu bài hát, còn lời ca là của hai tác giả Leo Chiosso và Giancarlo Del Re. Cả ba gương mặt này làm việc chung với nhau, hợp tác sản xuất chương trình ca nhạc nổi truyền hình quốc gia Ý (RAI). Được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1964, nhưng Teatro Dieci không đủ ăn khách để trở thành một điểm hẹn hàng tuần với khán thính giả.
Sau nhiều lần bị gián đoạn, chương trình này chính thức kết thúc vào tháng Tư năm 1972. Chính trong cái bối cảnh đó mà nhóm sáng tác Ferrio – Chiosso – Del Re mới soạn nhạc phẩm Parole Parole cho nữ danh ca Mina và Alberto Lupo, một nam diễn viên nổi tiếng của làng điện ảnh truyền hình thời bấy giờ. Nhờ vào bản song ca mà chương trình Teatro Dieci kết thúc một cách rực rỡ, sự nghiệp ca hát của Mina cũng tăng thêm một bậc. Bản song ca trở thành tình khúc ăn khách nhất nước Ý mùa hè năm 1972.

Đến tháng 10 năm 1972, Dalida quyết định ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Tác giả Jacqueline Misrahi, cũng xuất thân từ một gia đình gốc Ý sinh trưởng tại Ai Cập như Dalida, mới chấp bút soạn lời gần sát với nguyên tác tiếng Ý. Câu hỏi đặt ra vào lúc đó là người đàn ông nào sẽ ghi âm bài hát tiếng Pháp với Dalida ?
Các nhà sản xuất mới nghĩ tới một số nam diễn viên trứ danh. Dalida thì nhất quyết muốn ghi âm bài này với Alain Delon, ngôi sao màn bạc Pháp nổi tiếng nhất trên thế giới thời bấy giờ. Trong giới sản xuất, không ai tin rằng Alain Delon sẽ nhận lời, trước hết là vấn đề thù lao, kế đến nữa là lịch làm việc.
Cùng với Jean Paul Belmondo, Alain Delon là diễn viên ăn khách và sáng giá nhất từ thập niên 1960, cứ mỗi năm là có đến ít nhất bốn dự án quay phim. Vào đầu mùa thu năm 1972, Alain Delon đang bận đóng phim bên Ý (cuộn phim La Prima Notte di Quiete – Đêm yên tĩnh đầu tiên của đạo diễn Valerio Zurlini). Do vậy mà các nhà sản xuất nghĩ rằng dự án ghi âm của Dalida với thần tượng điện ảnh này sẽ khó mà hoàn thành.
Điều mà không ai biết được là Dalida và Alain Delon đã quen nhau từ gần 20 năm về trước. Lần đầu tiên hai người gặp nhau là vào năm 1955. Vào thời đó, Dalida chân ướt chân ráo đến Paris lập nghiệp sau khi đoạt chiếc vương miện hoa hậu Ai Cập năm 1954.
Dalida từng cho biết là cô mướn một căn hộ nhỏ bé trên con đường Jean Mermoz ở Paris quận 8, và anh bạn hàng xóm ở ngay bên cạnh không ai nào khác là Alain Delon. Dalida thành danh từ năm 1956 nhờ một loạt ca khúc ăn khách, còn Alain Delon đóng bộ phim đầu tay vào năm 1957, và chỉ thật sự nổi tiếng hai năm sau.

Theo lời kể của nhà sản xuất Eddie Barclay, người đã sáng lập hãng đĩa Barclay, thì Dalida và Alain Delon rất quý mến nhau. Một điều cũng khá dễ hiểu, vì cả hai khởi đầu sự nghiệp trong cùng một hoàn cảnh : diễn viên hay ca sĩ mới vào nghề đều khổ nhọc kiếm đồng lương, vất vả chạy show trả tiền nhà. Vì thế cho nên khi nhận được cú điện thoại của Dalida mời anh hợp tác ghi âm, Alain Delon liền nhận lời ngay.
Buổi ghi âm diễn ra trong bầu không khí ấm cúng thân tình, cả hai ngôi sao ít nói đến chuyện làm việc mà chủ yếu nhắc tới cái thuở hàn vi ban đầu. Tuy mỗi người sau đó đã chọn cho mình một hướng đi khác nhau, nhưng do từng trải cùng một hoàn cảnh, cho nên cả hai vẫn có cảm tưởng ngồi cùng một ghe, chèo cùng một thuyền.
Sau buổi ghi âm trong phòng thu vào tháng Mười năm 1972, Alain Delon chỉ có đủ thời gian để thực hiện các bức ảnh chụp với Dalida để làm hình bìa cho đĩa nhựa. Dự án quay một bộ phim ngắn với hai ngôi sao để minh họa cho ca khúc này rốt cuộc không thành. Nhưng sự hiện diện của Alain Delon, dù là ngắn ngủi chớp nhoáng, phủ lên trên ca khúc một lớp hào quang lộng lẫy.
Có nhân vật nào thời đó mà lịch lãm đào hoa hơn Alain Delon, hình tượng của người đàn ông đa tình lại càng nhấn mạnh cái ý tứ của tình nhân không chung thủy. Thời nay, việc hội tụ hai ngôi sao trên cùng một ca khúc thường là do quảng cáo tiếp thị tài tình. Thời của Dalida, đằng sau chuyện ghi âm với Alain Delon, lại có nhiều giai thoại đáng kể.
Được phát hành vào đầu năm 1973, làm ca khúc trích đoạn đầu tiên từ album thứ sáu của Dalida, nhạc phẩm Paroles Paroles phá kỷ lục số bán tại châu Âu do Giọng ca vàng Frank Sinatra nắm giữ từ năm 1966 nhờ ca khúc Strangers in the Night. Bài hát này cũng chiếm hạng đầu thị trường Nhật Bản và phá luôn kỷ lục của bài Tombe la Neige (Tuyết rơi) của Adamo.
Hàng loạt phiên bản trong nhiều thứ tiếng khác nhau lần lượt ra đời không lâu sau đó, kể cả tiếng Nhật, tiếng Đức, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ba Tư hay Thổ Nhĩ Kỳ. Một số phiên bản dịch thẳng từ nguyên tác tiếng Ý. Một số khác chuyển dịch từ phiên bản tiếng Pháp và đôi khi có đến hai hoặc ba lời khác nhau như trường hợp của phiên bản tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Việt (khác biệt trong tiếng Việt không nằm trong câu hát mà chủ yếu ở trong lời thoại).




Nếu như trong nguyên tác, bản nhạc tiếng Ý Parole Parole đã được viết với những ý tứ hóm hĩnh hài hước, thì phiên bản tiếng Pháp lại khai thác tâm trạng mất mát buồn bã của người đàn bà, khi họ bị lừa dối đến đỗi phải đột qụy vấp ngã.
Bản song ca tiếng Ý ban đầu được viết một tiết mục sân khấu truyền hình, qua đó, một người đàn ông đào hoa nói dối một cách trơ trẽn, tìm cách dỗ ngọt người yêu với bao lời thề thốt muôn đời chung thủy, nhưng người đàn bà ở đây không hề nhẹ dạ cả tin.
Về hoàn cảnh đời tư, thì vào đầu những năm 1970, Dalida yêu nhà văn nổi tiếng Arnaud Desjardins, ông là người đã giúp phổ biến ở Pháp triết học Ấn Độ và thuyết Phật giáo Tây Tạng. Sau ba năm quan hệ tình cảm từ năm 1969 đến năm 1972, hai người rốt cuộc đành phải chia tay nhau.
Mối bất đồng đến từ việc Arnaud Desjardins đã có gia đình và ông không chịu ly hôn với vợ để sống chung với Dalida. Một thời gian sau đó, Dalida làm quen với một người đàn ông khác là nam ca sĩ trẻ tuổi Richard Stivell. Sau vài tháng quen biết lui tới, Dalida tưởng rằng cô có thể làm lại cuộc đời, nhưng để rồi khám phá ra là tình nhân của mình (Richard Stivell) cũng là một người đàn ông đã có vợ. Buồn tình, chán nản, thất vọng, Dalida vùi đầu vào công việc. Không phải ngẫu nhiên mà trên cùng một album phát hành vào năm 1973, Dalida ghi âm nhiều ca khúc nói về nỗi sầu tương tư hay tình buồn đơn phương là nhạc phẩm Je suis malade của Serge Lama, Il venait d’avoir 18 ans cũng như bài Rien qu’un home de plus với gợi ý là Dalida lại có thêm một người đàn ông bạc nghĩa trong đời.
Còn trong nhạc phẩm Paroles Paroles (Những lời mê hoặc), Dalida hóa thân vào vai một người đàn bà bị phản bội bỏ rơi, diễn đạt ca khúc với tâm trạng cay đắng bồi hồi, lời giả dối càng ngọt bùi, nỗi ngậm ngùi càng làm cho đau nhói. Số phận oan nghiệt đang đẩy dần người đàn bà đến sát gần bờ vực thẳm tội lỗi. Cho đến cái ngày định mệnh khi Dalida tự kết liễu cuộc đời để lại một lời di chúc, một bức tâm thư : “Hãy tha thứ cho tôi, cô đơn, tôi không còn chịu đựng nổi”. Một lời tạ tội nhức nhối cho bao mất mát thiệt thòi.

(Theo Tuấn Thảo - Tạp chí Văn hóa)
Và bây giờ nghe bằng tiếng việt

Còn tha thiết chi lời yêu dấu cũ, những tiếng yêu đầu
Những gian dối mà thôi
Từng câu đắm say, từng câu ấm áp, những tiếng êm đềm
Những gian dối dịu êm
Ngày vui đã qua, mộng mơ cất cánh bay
Từng kỷ niệm giờ đây đã phai
Trôi nhanh tựa giấc mộng.

Ôi! Ngày xưa,
Lòng ta như là nắng ấm
Người cho ta tình yêu
Và những câu thề ngỡ mãi mãi không hề phôi phai
Giấc mơ ban đầu đã vỗ cánh theo ngàn mây bay
Hết rồi lời thề, lời hứa ước nguyện một đời
Ấm áp thật nồng nàn
Mà lòng em từng say đắm.

ĐK:
Người ơi đừng van xin lời êm ái nào
Người ơi đừng yêu thương lời gian dối đầu
Ôi bao mộng mơ xưa giờ đã xa rồi
Quên đi ngày xa xưa tình đã hết lòng đã chết
Giờ đôi lứa đã cách xa muôn nghìn trùng
Lời nói còn nghĩa chi!

Lời việt:  Phạm Duy

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

Не отрекаются любя (Đừng từ chối tình yêu)

   Верони́ка Миха́йловна Тушно́ва  (Veronica M. Tushnova; 1911 - 1965) - nhà thơ Liên xô nổi tiếng với những bài thơ về tình yêu. Veronica Tushnova viết  «Не отрекаются любя» (Đừng từ chối tình yêu) vào năm 1944 , và sau 30 năm bà trở thành nhà thơ. Bà tốt  nghiệp Khoa Y của Đại học Kazan, biết nhiều ngôn ngữ, thời chiến tranh đã làm việc trong một bệnh viện quân đội .
   Tác giả phổ nhạc bài thơ tình tuyệt vời này là Mark Anatolievich Minkov (Марк Анатольевич Минков;  1944 - 2012) được  sinh ra trong thời điểm bài thơ  «Не отрекаются любя» (Đừng từ chối tình yêu ) ra đời . 
  Năm 1976 bài hát «Не отрекаются любя» (Đừng từ chối tình yêu ) lần đầu tiên được thực hiện trong vở kịch "Đàn ông đội mũ của người đàn ông " tại nhà hát mang tên Pushkin. Mark Minkov đề nghị Alla Pugachova cùng tham gia, và tiếng hát của nữ ca sĩ lừng danh đã làm tên tuổi của ông càng trở nên nổi tiếng. Câu chuyện về tình yêu nói trong bài hát này vẫn còn âm vang trong trái tim của người biểu diễn, trong trái tim của người nghe , trong giấc mơ lãng mạn, mà theo V. M. Tushnova "để mỗi linh hồn con người dang rộng đôi cánh của mình" trở thành hiện thực.

Не отрекаются любя
Стихи: Вероникa Тушновa ; музыка : Марк Минков
Не отрекаются  любя
Ведь жизнь кончается не завтра.
Я перестану ждать тебя,
А ты придешь совсем внезапно.
Не отрекаются, любя.

А ты придешь, когда темно,
Когда в окно ударит вьюга,
Когда припомнишь, как давно
Не согревали мы друг друга.
Да ты придешь, когда темно.

И так захочешь теплоты,
Неполюбившейся когда-то,
Что переждать не сможешь ты
Трех человек у автомата -
Вот как захочешь теплоты!



За это можно все отдать,
И до того я в это верю,
Что трудно мне тебя не ждать
Весь день не отходя от двери,
За это можно все отдать

Не отрекаются  любя,
Ведь жизнь кончается не завтра,
Я перестану ждать тебя,
А ты придешь совсем внезапно,
Не отрекаются, любя,
Не отрекаются, любя.


ĐỪNG TỪ CHỐI TÌNH YÊU
 Nhã Lan dịch
(Nhạc: Mark Minkov;  Thơ: Veronica M. Tushnova)
Đừng từ chối tình yêu
Bởi  ngày mai chưa phải kết thúc
Em đã không còn chờ anh nữa
Nhưng thật bất ngờ anh đến bên em
Đừng phủ nhận tình yêu

Anh đến bên em khi trời đã tối
bão tuyết  bập bùng qua khung cửa sổ
Anh bỗng nhớ đã lâu mình không gần gũi
phải, khi trời đã tối, anh đến bên em

Và anh lại muốn truyền hơi ấm cho em
như những ngày nào
Anh không thể chờ đợi thêm nữa  
Anh muốn sưởi  ấm cho em
gấp ba lần yêu thương, nồng cháy

Em đã trao cho anh tất cả
Và chỉ tới lúc đó
Em mới hiểu không chờ đợi anh em khổ sở biết bao
Cả một ngày bên anh trong tổ ấm tình yêu
Em đã trao cho anh  tất cả

Đừng từ chối tình yêu
Bởi  ngày mai chưa phải kết thúc
Em đã không còn chờ anh nữa
nhưng thật bất ngờ anh đến bên em
Đừng phủ nhận tình yêu.

* Và đây là toàn bộ bài thơ này, bản phổ nhạc gồm 3 khổ thơ đầu và khổ thơ cuối.
Не отрекаются любя 
Вероникa Тушновa
Не отрекаются любя.
Ведь жизнь кончается не завтра.
Я перестану ждать тебя,
а ты придешь совсем внезапно.

А ты придешь, когда темно,
когда в стекло ударит вьюга,
когда припомнишь, как давно
не согревали мы друг друга.

И так захочешь теплоты,
не полюбившейся когда-то,
что переждать не сможешь ты
трех человек у автомата.

И будет, как назло, ползти
трамвай, метро, не знаю что там.
И вьюга заметет пути
на дальних подступах к воротам...

А в доме будет грусть и тишь,
хрип счетчика и шорох книжки,
когда ты в двери постучишь,
взбежав наверх без передышки.

За это можно все отдать,
и до того я в это верю,
что трудно мне тебя не ждать,
весь день не отходя от двери.

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Ej przeleciał ptaszek (Rồi một con chim bay)

Nhạc: Tadeusz Sygietyński (1896-1955); Lời thơ: dân gian Ba lan

    Chiều  mùng  1 tết Giáp ngọ, tôi đến chúc tết cô tôi, và được nghe cô hát một bài hát rất quen thuộc, tôi đã biết từ thời còn đi học. Câu hát của cô “…rồi một con chim bay…” cứ văng vẳng bên tai tôi…Cô tôi vẫn hát hay như ngày nào, tự nhiên tôi ứa nước mắt nghĩ về những ngày tháng gian khó trong chiến tranh, hình ảnh người cô thân yêu lúc đó, và lúc này đây - vẫn như vậy, chỉ khác là năm tháng đã làm thêm những nếp nhăn trên khóe mắt cô, nhưng gương mặt, và giọng hát của  cô vẫn như vậy, dịu dàng, đằm thắm mà kiên cường biết bao! 
    Đó là bài hát "Ej przeleciał ptaszek" ("A Little Bird Flew By""A Little Bird Flew Past", tiếng Việt: "Rồi Một Con Chim Bay"), do giáo sư  Tadeusz Sygietyński (1896-1955) viết nhạc, theo lời thơ dân gian.
    Bài hát  “Rồi một con chim bay” đã phổ biến tại miền Bắc Xã hội chủ nghĩa những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau khi các nghệ sĩ của Việt nam đi giao lưu văn nghệ tại Ba lan (vào năm 1955), họ đã được nghe nữ ca sĩ  Irena Santor lĩnh xướng cùng nhóm ca múa nhạc "Mazowsze",  Irena Santor là thần tượng âm nhạc Ba lan lúc bấy giờ , thế là bài hát được đem về Việt nam  và được khán giả Việt nam vô cùng yêu thích.
   "Mazowsze" (The Polish Song and Dance Ensemble "Mazowsze") là một nhóm ca múa nhạc dân gian nổi tiếng. Nó được đặt tên theo vùng Mazowsze, Ba Lan, đã được thành lập theo nghị định của Bộ Văn hóa và Nghệ thuật Ba lan vào ngày 08/11/1948 và giao cho Giáo sư Tadeusz Sygietyński lãnh đạo, huấn luyện nhằm có thể duy trì nghệ thuật truyền thống, kho tàng các bài hát và điệu múa dân gian.



Ej, przeleciał ptaszek
 1.Ej, przeleciał ptaszek kalinowy lasek,
Siwe piórka na nim zadrżały.
Nie płacz ty, dziewczyno, nie płacz ty, jedyna,
Albo ci to świat mały?
Szumi gaj, szumi gaj, szumi gałązeczka
Żółte listki z drzewa padają, ej padają.
Zabrali mi chłopca, a ja w świecie obca,
Innego mi rodzice rają.

2.Leć głosie po rosie, ku zieleskim łąkom,
Przeleć Wisłę, przeleć dunaje,
Powiedzże miłemu, że ja się tu błąkam,
Że mi serce się kraje.
Leć, ptaszku, wysoko, leć, ptaszku, daleko
Do chłopca mego, jedynego. Jedynego!
Niechże on przyjeżdża, niechże on przybywa,
Bo mi rają niekochanego.

3.Kochanie, kochanie, dalekośwa siebie,
Niech płyną do ciebie moje łzy,
Szeroko, daleko słoneczko na niebie,
Jeszcze dalej jesteś ty.
Nie przybędziesz do mnie ani ja do ciebie,
Nie doleci do ciebie mój głos. Nie doleci!
Smutne życie moje, kiedy nie we dwoje,
Smutny mój -- bez ciebie -- smutny los.

 Rồi một con Chim bay
  Dân ca Ba Lan
 1.Rồi một con chim bay, còn nghiêng đôi cánh qua khu rừng
Nghiêng đôi cánh, đôi cánh, còn thấy lung linh
Đừng buồn đừng khóc nhé, người yêu duy nhất đừng khóc,
Nữa mai cuộc sống quanh ta vô vàn
Rào rạt bao cành non, chen cây mênh mông chen cây
Âm vang bao nhiêu lá khô đang trút rơi, những lá vàng rơi,
Này người yêu duy nhất, dù xa, xa cách ngàn khơi
Lòng anh vẫn nhắc tên Em những ngày cùng nhau
  
2.Chiều về Em có nhớ, rằng nơi đây có anh đang chờ
Anh đang ngóng đợi mãi, chan chứa yêu thương
Mà vì sao em hỡi,  chiều nay sao Em lại vắng
Biết chăng Anh đã mang bao u buồn
Dạt dào hàng cây xanh, nơi đây Anh mong tin Em
Ôi Em thân yêu đang đến với Anh kia rồi
Dáng Em trìu mến
Này Người yêu duy nhất, dù xa xa cách ngàn khơi
Lòng Anh vẫn nhớ đêm trăng anh ngồi cùng Em

3-Rồi một con chin bay, còn nghiêng đôi cánh qua khu rừng
Nghiêng đôi cánh, đôi cánh, còn thấy lung linh
Đừng buồn đừng khóc nhé, người yêu duy nhất đừng khóc,
Nữa mai cuộc sống quanh ta vô vàn
Rào rạt bao cành non, chen cây mênh mông chen cây
Âm vang bao nhiêu lá khô đang trút rơi, những lá vàng rơi,
Rồi ngày Anh ra đi, là khi đôi lứa xa cách,
Mẹ cha Em muốn khuyên Em dứt tình cùng Anh.
  (Nguồn: Âm nhạc và du lịch Ba lan – Lê trường Sơn)


Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

Полюшко-поле (cánh đồng nhỏ)

Bài hát  "Полюшко-поле" – Cánh đồng nhỏ thân thương là một bài hát nổi tiếng, đã ghi sâu vào tâm hồn hàng triệu người dân Xô viết và phổ biến rộng trên toàn thế giới. Tác giả bài hát là nhà soạn nhạc người Nga Лев Константинович Книппер (Lev Konstantinovich Knipper, 1898-1974) phổ theo lời thơ  của  nhà thơ Nga Виктор Михайлович Гусев (Viktor Mikhailovich Gusev ,1909-1944).

Bài hát được  ca sĩ Vera Dukhovskaya cùng với nghệ sĩ dương cầm Mikhail Bihter biểu diễn ra mắt lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1933 trong một buổi hòa nhạc mừng kỉ niêm 15 năm thành lập Hồng quân Liên Xô. Sau đó bài hát đã trở nên nổi tiếng và được nhiều nghệ sĩ của Liên Xô và Nga biểu diễn và thu thanh, trong đó có một phiên bản nhạc rock nổi tiếng do ban nhạc Liên Xô "Những chiếc đàn Ghita hát" (Поющие гитáры) thực hiện vào năm 1967. Bài hát cũng được Dàn hợp ca Hồng quân Liên Xô thể hiện và thu âm rất nhiều lần.

Tại lễ khai mạc Đại hội Liên hoan thanh niên thế giới năm 1945 tại London, bài hát "Polyushko Polye" được chọn là bài hát hay nhất của thế kỷ 20, với phần nhạc  của nhạc sĩ Lev Konstantinovich Knipper,  nhạc trưởng L. A. Stokovsky (1882-1977) biên soạn tổng phổ dành cho dàn nhạc giao hưởng hợp xướng. Bản tổng phổ này đã được 6.000 nam nữ thanh niên, sinh viên đại diện cho thanh niên sinh viên trên toàn thế giới tham gia đại hội này trình diễn. 

Phần trình bày dưới đây do nữ ca sĩ người Nga Ольга Витальевна Яковлева (Ol'ga Vital'evna Yakovleva) sinh năm 1970 thực hiện. Cô ca sĩ này chỉ hát khổ thơ đầu bằng tiếng nga , mình nghe thấy vậy, nhưng vẫn cứ tải về cả lời bài hát. Giọng cô ca sĩ này mình thấy hợp với khung cảnh và giai điệu bài hát...

Полюшко, поле,
Полюшко, широко поле!
Едут по полю герои!
Эх, да Красной Армии герои.

Девушки плачут,
Девушкам сегодня грустно,
Милый надолго уехал,
Эх, да милый в армию уехал.

Девушки, гляньте,
Гляньте на дорогу нашу,
Вьется дальняя дорога,
Эх, да развеселая дорога.

Едем мы, едем,
Едем - а кругом колхозы,
Наши, девушки, колхозы,
Эх, да молодые наши села.

Только мы видим,
Видим мы седую тучу,
Вражья злоба из-за леса,
Эх, да вражья злоба, словно туча.

Девушки, гляньте,
Мы врага принять готовы.
Наши кони быстроноги,
Эх, да наши танки быстроходны.

В небе за тучей
Грозные следят пилоты.
Быстро плавают подлодки.
Эх, да корабли стоят в дозоре.

Пусть же в колхозе
Дружная кипит работа,
Мы - дозорные сегодня,
Эх, да мы сегодня часовые.

Девушки, гляньте,
Девушки, утрите слезы.
Пусть сильнее грянет песня,
Эх, да наша песня боевая!

Полюшко, поле,
Полюшко, зелено поле!
Едут по полю герои,
Эх, да Красной Армии герои!


Cánh đồng nhỏ yêu thương
Cánh đồng nhỏ xinh xinh
Cánh đồng nhỏ mà như rộng mở.
Họ đi tới trên cánh đồng anh hùng,

Ôi, những chiến sĩ Hồng quân anh dũng!
Có cô gái đang buồn, đang khóc,
Ngày hôm nay, các cô gái buồn
Bởi tình yêu nảy nở đã lâu rồi,

Ôi, tình yêu dành cho chiến sĩ
Em gái ơi hãy tìm trong đó
Để nhận ra con đường của chúng tôi,
Những trận đánh, những cuộc hành quân dài,

Ôi, những con đường trẻ trung, vui nhộn.
Bước tiếp bước, chúng tôi vẫn đi,
Bước tiếp bước, qua những nông trang tập thể.
Chúng tôi cùng những cô gái nông trang,

Làng của chúng tôi, làng của tuổi trẻ.
Và chúng tôi có thể nhận ra mau,
Trên bầu trời những đám mây xám xịt.
Kẻ thù đó trong bộ áo nâu
Kẻ thù đó, bóng mây đen phát xít.
Net

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Старинные часы – Đồng hồ cổ

Раймонд Паулс ( tên đầy đủ là Ojar Raimonds Pauls -1936) – là nhà soạn nhạc Liên Xô và Latvia, đạo diễn, nghệ sĩ dương cầm và chính trị gia, Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô (1985), Tiến sĩ danh dự của Học viện khoa học Latvia. 

Nhiều bài hát của ông nổi tiếng và được nhiều người yêu thích như “Triệu bông hồng đỏ thắm” (Миллион алых роз), “Điệu nhảy trên trống” (Танец на барабане) …Nữ ca sĩ А́лла Бори́совна Пугачёва (Alla Pugachova; 1949) đã hát nhiều bài hát của ông, đặc biệt bài hát “Triệu bông hồng đỏ  thắm” (Миллион алых роз) đã trở nên quen thuộc với khán giả Việt nam ở mọi lứa tuổi. 

Bài hát “Đồng hồ cổ” (Старинные часы) là bài hát mình yêu thích, và theo mình, đến nay, có lẽ chưa ai thể hiện thành công bài này như А́лла Пугачёва (Alla Pugachova)…

 (Слова: Илья Резник,  Музыка: Раймонд  Паулс) 

Старинные часы ещё идут,
Старинные часы, свидетели и судьи. 
Когда ты в дом входил, 
Они слагали гимн, 
Звоня тебе
во все колокола.

Когда ты не сумел меня понять, 
Я думала - замрут все звуки во Вселенной, 
Но шли мои часы,
Торжественно, печально,

Я слышала их поминальный звон. 

Жизнь невозможно повернуть назад, 
И время ни на миг не остановишь.
Пусть неоглядна ночь 
И одинок мой дом, 
Ещё идут старинные часы.



Жизнь невозможно повернуть назад,
И время ни на миг не остановишь.
Пусть неоглядна ночь
И одинок мой дом, 
Ещё идут старинные часы. 

Когда ты уходил, такой чужой,

Амуры на часах сломали лук и стрелы. 
Часы остановить
Тогда я не сумела, 
Как не смогла остановить тебя. 

Жизнь невозможно повернуть назад,
И время ни на миг не остановишь. 
Пусть неоглядна ночь
И одинок мой дом, 
Ещё идут старинные часы.

Жизнь невозможно повернуть назад,
И время ни на миг не остановишь. 
Пусть неоглядна ночь 
И одинок мой дом, 
Ещё идут старинные часы.

Старинные часы ещё идут, 

Старинные часы, свидетели и судьи.
Когда ты в дом входил,
Они слагали гимн, 
Звоня тебе 
во все колокола. 

Старинные часы ещё идут, 

Старинные часы ещё идут,
Ещё идут, ещё идут... 

ĐỒNG HỒ CỔ 
Nhã Lan dịch

Chiếc đồng hồ cổ vẫn  quay vòng đều đặn
là vị quan tòa, là nhân chứng thầm lặng
Khi anh bước vào nhà, đồng hồ cất tiếng ca
đồng loạt tiếng chuông reo, gọi tên anh tha thiết

Khi anh không còn hiểu và  yêu em  nữa
Mọi âm thanh trên cõi đời dường như ngưng lại
Nhưng  đồng hồ  của em vẫn chạy
buồn bã, trang nghiêm
và em liên tưởng tới hồi chuông tang lễ

Cuộc sống qua đi không bao giờ  trở lại
thời gian cũng vậy chẳng dừng một phút giây
Màn đêm bao la cùng căn nhà em, lẻ bóng
vẫn đều đặn quay vòng, đồng hồ cổ nơi đây.

Anh ra đi rồi, xa lạ biết mấy
Vòng cung và mũi kim đồng hồ  bị thần tình yêu bẻ gãy
Em chẳng thể làm  đồng hồ ngừng chạy
Cũng không thể níu lại bước chân anh

Cuộc sống qua đi  không bao giờ trở lại
thời gian cũng vậy chẳng dừng một phút giây
Màn đêm bao la cùng căn nhà em, lẻ bóng
vẫn đều đặn quay vòng, đồng hồ cổ nơi đây.

Chiếc đồng hồ cổ vẫn  quay vòng đều đặn
là vị quan tòa, là nhân chứng thầm lặng
Khi anh bước vào nhà, đồng hồ cất tiếng ca
đồng loạt tiếng chuông reo, gọi tên anh tha thiết

Chiếc đồng hồ cổ vẫn quay vòng đều đặn
Chiếc đồng hồ cổ vẫn quay vòng đều đặn
Vẫn  chạy đều,  chạy đều...


..

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Barcarolle in F sharp major (Fa thăng trưởng), Op. 60 của frédéric Chopin (1810-1849)

Barcarolle của Chopin không phải là một  khúc nhạc chèo thuyền điển hình của thành Venice, nó cũng mang những đặc tính chung về các chiếc thuyền thành Venice, tiếng mái chèo khua nước cùng với những bản tình ca, nhưng điểm nổi bật của khúc chèo thuyền này đó là nó đã trở thành một tác phẩm lớn độc lập và đạt những tiêu chuẩn mẫu mực nhất về cấu trúc và hòa âm, và đặc biệt hơn cả là Chopin chỉ sáng tác duy nhất một bản barcarolle vào lúc gần cuối đời, đậm chất thơ, chất nhạc, và nó là bản nhạc vô cùng quí giá, rất nhiều nghệ sĩ lấy nó làm nguồn cảm hứng thể hiện

Thể loại "Barcarolle", tạm dịch là khúc nhạc chèo thuyền, được khá nhiều nhà soạn nhạc thế kỷ thứ 19 như Mendelssohn, Chopin, Tchaikovsky, Fauré, Rachmaninov... sáng tác. Đề tựa "Barcarolle" hầu như đã thể hiện rõ nội dung chính của tác phẩm là những khúc hát, những bản tình ca trên các dòng sông thành Venice. Chopin sáng tác bản barcarolle vào năm 1846 và đề tặng cho Madame Stockhausen. Cũng như các bản nocturne, cấu trúc bản barcarolle có dạng A-B-A. Phần dẫn nhập bắt đầu bởi một nốt trầm Đô thăng và loạt chuyển âm giảm dần theo từng nốt của khóa chính Fa thăng trưởng, tạo nên một cảm giác lâng lâng mờ ảo. Sau một khoảng lặng, giai điệu chính bắt đầu với tiếng mái chèo ở bè đệm với cùng một nhịp điệu xuyên suốt phần thứ nhất của tác phẩm. Giai điệu chính bắt nhịp vào tiếng mái chèo và cất tiếng hát thật trong trẻo tươi đẹp như những bản dạ khúc tình yêu. Giai điệu chính được lặp lại bằng những hơp âm quãng ba và quãng sáu, và kết thúc phần thứ nhất với loạt hợp âm bổng và nhạt dần trong nốt chuyển âm từ Fa thăng trưởng sang Fa thăng thứ.


Một khúc độc thoại chuyển điệu Fa thăng thứ sang điệu La trưởng ở phần thứ hai. Nhịp điệu của tiếng mái chèo trở nên rõ hơn và đều đặn hơn với giai điệu chuyển từ Sol thăng sang Fa thăng. Không gì đẹp hơn những hợp âm rải trên các nốt Sol thăng và Fa thăng như những giọt nước lìa khỏi mái chèo bay vào khoảng không và cất lên tiếng hát trong trẻo. Nhịp chèo trở nên hối hả, dồn dập hơn với nhưng hợp âm quãng tám mạnh mẽ. Cao trào dâng lên cao nhất cũng với hai hợp âm Sol thăng và Fa thăng. Kịch tính tan dần đi cùng với sự chuyển sang hợp âm Fa thăng thứ nhẹ nhàng, ẩn chứa đâu đây một niềm tiếc nuối. Tiếp theo đó là giai điệu ở giọng La trưởng thanh bình và cũng không kém phần êm đẹp, như một lời đáp lại chủ đề chính ở phần thứ nhất và giai đoạn kịch tính ở phần thứ hai. Một khúc trầm lắng với những hợp âm giảm, chậm rãi, mái chèo dường như dừng hẳn để mặc chiếc thuyền nhẹ trôi theo dòng nước, con người như chìm vào những giấc mơ. Những cơn gió cùng làn sóng nhẹ nhàng lan tỏa vào mạn thuyền và vạn vật dường như thức tỉnh để trở về với giai điệu chính ở giọng Fa thăng trưởng.


Phần thứ ba bắt đầu với  giai điệu chính  được lặp lại mạnh mẽ hơn, dồn dập hơn phần thứ nhất. Những hợp âm dâng lên đến đỉnh điểm và chuyển sang khúc lặp của phần thứ hai, nhưng vẫn ở giọng Fa thăng  trưởng thay vì La trưởng, cao hơn một quãng tám, dữ dội hơn, kịch tính hơn để giải quyết những uẩn khúc xuyên suốt tác phẩm. Khúc coda (phần cuối mỗi đoạn) sử dụng hàng loạt những kỹ thuật hòa âm phức tạp, bay bổng, dường như mái chèo không còn khua trên dòng nước nữa mà là trên những tầng mây. Chính những tầng mây này đưa chiếc thuyền trở về với dòng sông quen thuộc bằng nốt trầm Fa thăng và con người cũng trở về với thực tại, kết thúc bản tình ca với hai quãng tám ngân vang, mạnh mẽ.
(Theo Trần Lương Anh- edited by Nhã Lan)


Có rất nhiều nghẹ sĩ danh tiếng trình bày tác phẩm này : như Cortot (1933) , Rubinstein (1928 & 1962), Marguerite Long, Kempff , Gieseking (1938) , Lipatti , Stanislav Neuhaus , Marcelle Meyer, Idil Biret , Rafal Blechacz , và Ashkenazy …nhưng tôi thích  phần trình diễn của Martha Argerich (năm 1960)

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Valse Op. 69, No.1 in A Flat- Major ( La giáng trưởng) của Frédéric Chopin

Valse  Op. 69 , No.1  cung La giáng trưởng (A Flat Major)  được F. Chopin soạn vào ngày 24/9/1835 tại Dresden. Trên hành trình qua Saxony để về Paris năm đó, F. Chopin tình cờ gặp lại gia đình một người bạn. Cô con gái của họ, Maria Wodzińska, cô bé mà ông đã biết 5 năm trước khi còn ở Ba Lan, giờ đây đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp và có tài năng âm nhạc và nghệ thuật. Chopin mau chóng phải lòng Maria và đã tặng Valse  Op. 69 , No.1   cho Maria trong dịp đó. Sau này tác phẩm được mang biệt danh L"adieu (Lời từ biệt).

Ngoài bản Valse  Op. 69 , No.1  Chopin còn gửi tặng Maria bản Étude giọng Fa thứ Op. 25/2 mà ông soạn tại Paris tháng 1/1836 và nhắc đến như “một khắc họa tâm hồn Maria” cùng 7 ca khúc nghệ thuật phổ thơ Ba Lan.

Vào tháng 9/1836, khi trở lại từ Dresden sau kỳ nghỉ cùng gia đình Wodzińskis tại một thị trấn suối khoáng, Chopin đã cầu hôn Maria và nàng chấp thuận. Lúc đầu, mẹ của Maria cũng ủng hộ dự định hôn nhân này với điều kiện Chopin phải quan tâm đến sức khỏe của mình hơn nữa.

Song đám cưới đã không thành, do sức khỏe của Chopin rất yếu, và  Maria còn quá trẻ. Mùa đông năm đó Chopin quá ốm yếu, thậm chí còn có tin đồn ở Warsaw rằng ông đã qua đời.

Khi Chopin còn sống, công chúng không hề biết rằng Chopin và Maria Wodzińska từng đính hôn, những người viết tiểu sử Chopin mãi sau này mới phát hiện ra bí mật đó. Những thư từ mà Chopin trao đổi với Maria và mẹ cô được ông cho vào một phong bì lớn, bên ngoài đề chữ Ba Lan “Moja bieda" (Nỗi đau buồn của tôi).

Về mặt âm nhạc, tác phẩm diễn cảm này không đặc biệt nổi bật so với một số bản valse khác của Chopin (Chopin viết 17 bản Valse).  Có lẽ đây mới là lý do chính khiến tác giả không cho xuất bản Valse op.69, No.1  cung La giáng trưởng này khi còn sống.
(Net)
 Arthur Rubinstein ( 28/1/1887 - 20/12/1982 , nghệ sĩ piano quốc tịch  Mỹ , người Ba lan gốc Do thái, nổi tiếng với những bản nhạc của Chopin và được xem như là một trong những nghệ sĩ piano vĩ đại nhất thế kỉ 20 trình bày tác phẩm này.

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Pierre-Auguste Renoir


   Pierre-Auguste Renoir (1841 - 1919) là  họa sĩ người Pháp, một nhân vật tiên phong trong sự phát triển của phong cách trường phái ấn tượng. Ông là một họa sĩ luôn đề cao vẻ đẹp, đặc biệt là về vẻ đẹp cơ thể của nữ giới. "Renoir là hiện thân cuối cùng của truyền thống chuyển tiếp từ Rubens tới Watteau" và xứng đáng là bậc tiền bối của các tên tuôỉ nổi bật thời sau như Aristide Maillot, Matisse và Picasso. Renoir sinh ngày 25 tháng 2 năm 1841 tại miền quê Limoges, miền trung nước Pháp. Không lâu sau Renoir theo gia đình chuyển đến thủ đô Paris, là trung tâm khoa học, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật… phát triển rất nổi trội thời bấy giờ.

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

Moments Musicaux (những khoảnh khắc âm nhạc) của Franz Schubert

4 trong 6 tiểu phẩm Moments musicaux (Những khoảnh khắc âm nhạc) D. 780 được nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert (1797 - 1828) soạn trong các năm 1827 và 1828. Hai tiểu phẩm số 3 và số 6 được soạn  trong các năm 1823 và 1824.  F.Schubert viết các tiểu phẩm ở hình thức phân đoạn và nhiều tiếu phẩm là một kiểu vũ khúc nào đấy, 6 tiểu phẩm  viết cho pinao này được xuất bản vào tháng 7 năm 1828 – năm cuối cùng của cuộc đời ông,  gồm:

1. Moderato in C major : Giọng Đô trưởng với tốc độ Moderato (vừa phải), là một  điệu nhảy  (minuet) giống như một điệu valse của Chopin sau này, âm nhạc của  minuet đó vượt quá mọi động tác khiêu vũ mà con người có thể thực hiện được.

2. Andantino  (thư thái) in A-flat major: Giọng La giáng trưởng, sau giai điệu mở đầu trong trẻo được đệm bằng những hợp âm rải tay trái đều đặn.


3. Allegro moderato  in F minor:  (nhanh vừa  phải, giọng Fa thứ), được soạn vào năm 1823, mang săc thái Đông Âu, nó được nhà xuất bản dán  nhãn ban đầu là Air Russe (Phong thái Nga). Mình rất thích tiểu phẩm này

4. Moderato in C-sharp minor: (vừa phải, giọng Đô thăng thứ), gợi nhắc tới J.S.Bach. Đoạn trung tâm của nó trải ra ở điệu thức trưởng, nơi những gì liên quan đến điệu thức thứ tan biến đi trong một thế giới mộng mơ nhẹ nhõm của những nhịp lệch ken dày trong kết cấu.

5. Allegro vivace in F minor : (vui tươi, sôi nổi, giọng Fa thứ), là một tiểu phẩm mạnh mẽ với nhịp như ngựa phi. Âm nhạc dễ dàng làm ta hình dung tới một con tuấn mã đang phi nước kiệu vòng quanh một sân khấu xiếc. Tiểu phẩm số 5 này mang đậm chất Schubert.

6. Allegretto in A-flat major: Tiểu phẩm cuối cùng có tốc độ hơi nhanh (Allegretto)trong bộ Moments musicaux cũng được viết ở giọng La giáng trưởng như  điệu nhảy (minuet) đầu tiên. Trong tiểu phẩm có thời lượng dài nhất này, F. Schubert làm thính giả ngỡ ngàng bằng các lối chuyển điệu thông minh và linh hoạt nhất.

Tiêu đề Moments musicaux (Những khoảnh khắc âm nhạc) không phải do tác giả đặt, bởi vào thời gian đó Schubert đang rất túng quẫn và phải chiến đấu giành giật sự sống của chính mình, nên ông không có tâm trạng nào để quan tâm đến tiêu đề của 6 tiểu phẩm này, đó không thực sự là những "khoảnh khắc" âm nhạc vì một nửa trong số tiểu phẩm đó có thời lượng tới hơn 5 phút, thậm chí tiểu phẩm số 6 dài khoảng 7 phút.

Trong đám tang của Beethoven tại Vienna một năm trước đó , tháng 6 năm 1827, Schubert là một trong những người cầm đuốc đi sau thi hài thần tượng của mình.

Ngày 19 tháng 11 năm 1828 Schubert qua đời. Trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, Schubert trăng trối với em trai mình là Ferdinand muốn được chôn cất bên cạnh Ludwig van Beethoven tại nghĩa trang Währing.  Năm
 1888, di hài của cả Beethoven và Schubert cùng được chuyển về nghĩa trang Zentralfriedhof, nơi yên nghỉ của nhiều nhà soạn nhạc danh tiếng khác.

Nhà soạn nhạc và nghệ sĩ dương cầm kiệt xuất người Nga Sergei Rachmaninov cũng soạn bộ tác phẩm giá trị Six Moments Musicaux (6 khoảnh khắc âm nhạc), Op. 16 vào khoảng tháng 10 và 12 năm 1896, với nguồn cảm hứng từ bộ Moments musicaux của F.Schubert.

Net (edited)


Nghệ sĩ piano – giáo sư người Đức  Wilhelm Backhaus(1884 - 1969) trình bày 6 tiểu phẩm này

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

Незаконченный роман (Thiên tiểu thuyết dang dở)

Cлова: Арсенев К; Музыка: Игорь Крутой
Красивая любовь
Мы отдали ей дань безумства.
О, боже, как была к лицу тебе твоя весна,
Но осень на дворе, деревья в серебре,
Увы, привычка охладила нас

Но осень на дворе, деревья в серебре,
Увы, привычка охладила нас.


Снежинки на ресницах таяли,
И зачарованно читали мы
Красивый незаконченный роман
Про любовь без измен


Но всё когда-нибудь кончается,
Так от судьбы давай уйдём сейчас,
Оставив незаконченный роман
В парке на скамье.

Не мало между нами
Радостных воспоминаний,
Но я бы не хотела знать агонию любви.
Расставшись, мы с тобой cпасём свою любовь
От сложных разговоров и обид

Расставшись, мы с тобой cпасём свою любовь
От сложных разговоров и обид


* Thiên tiểu thuyết dang dở
 Lời : К. Arxenhev Nhạc: Igor Krutoi

        Diệu Trinh dịch

Mối tình đẹp

Mình đã  say đắm bên nhau

Ôi, gương mặt em tươi sáng một thời xuân

Nhưng cây đã bạc màu, thu ngấp nghé trong sân

Hỡi ôi! cái thói quen  làm đôi mình nguội lạnh

Đã tan trên mi em rồi, những bông tuyết lạnh
Mình đã  cùng  đọc trong đắm đuối, mê say
Thiên tiểu thuyết tuyệt vời còn dang dở  
về mối tình chẳng bao giờ đổi thay

Qua rồi tất cả, những cảm xúc ngất ngây
Số phận an bài, mình đành chia hai lối
Cuốn tiểu thuyết tình dang dở kia đành bỏ lại
Trên  chiếc ghế mình đã bao lần ngồi ở công viên

Những kỷ niệm vui bên nhau thật khó  quên
Nhưng em không nỡ  thấy tình yêu hấp hối
Mình chia tay, và giải thoát cho nhau, cứu rỗi
Đừng làm tổn thương nhau, tranh cãi nhé, nghe anh...