Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

Tháng Chín

Tháng Chín mưa xối xả
Nắng buồn khóc theo mưa
Tiếng dương cầm ban trưa
Lay động cành hoa tím ...

Tháng Chín gió từng cơn
Cây buông mình , nghiêng ngả
Lá xoay tròn tan vỡ
Hối hả một vần thơ

Tháng Chín vẫn đẹp như mơ
Vẫn xanh mộng ước, vẫn chờ trăng lên
Thu vàng trong gió triền miên
Ngẩn ngơ một khúc chèo thuyền năm xưa ...




Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

The " Tempest" ( chương 3 Allegretto) của Ludwig van Beethoven (1770-1827)

"The Tempest" (hoặc Der Sturm ) Ludwig van Beethoven (1770-1827) sáng tác vào năm 1801 còn gọi là bản The Piano Sonata số 17 cung Rê thứ, Op. 31, số 2 , sau sự kiện Cách mạng Tư sản Pháp 1789 -1794  - một  sự kiện gây chấn động châu Âu thời bấy giờ đã ảnh hưởng nhiều tới sáng tác của ông. Beethoven hết sức ngưỡng mộ và thán phục Napoleon. Cuộc cách mạng Pháp 1789 đã góp phần thắp lên tinh thần rực lửa đấu tranh vì quyền tự do, bình đẳng của con người và phong cách anh hùng ca như các tác phẩm sau này của Beethoven. Chính những biến động về tư tưởng đã giúp ông quyết định rời thành Bonn tháng 11-1792 để đến Vienna, trung tâm văn hóa của châu Âu thời bấy giờ. Ông đến với thành Vienna trong sự hào hứng của tuổi trẻ và niềm tin vào một môi trường học tập mới. Giai đoạn ở thành Vienna là giai đoạn đánh dấu sự trưởng thành và bước thăng hoa trong cuộc đời sáng tác âm nhạc của Beethoven. Bản Sonata này được gọi là "The Tempest" (hoặc Der Sturm tại quê hương Đức của ông)
Bản Sonata này có 3 chương:
1. Largo – Allegro (trang nghiêm, tương đối nhanh)
2. Adagio (Thong thả)
3. Allegretto (nhanh, nhưng hơi chậm hơn Allegro)

Chương 1 : Largo – Allegro (trang nghiêm, tương đối nhanh)

Mình cảm nhận một sự đe dọa , một nỗi sợ hãi mơ hồ về một điều gì đó sắp xảy ra, hay mình vốn nhiều suy tưởng và hay sống trong tưởng tượng nhỉ? Hay chữ The Tempest ám ảnh mình? Với kiến thức hạn chế, nhưng ham tìm hiểu mày mò, mình vẫn hồi hộp làm sao khi chờ đợi cơn bão của tác giả, khi nào nó bắt đầu? mình lại liên tưởng tới cơn bão Mùa hè của Vivaldi trong Tổ khúc Bốn mùa...

Chương 2 : Adagio (Thong thả) ở gam Si giáng trưởng (Bb) giai điệu chậm hơn và trang trọng hơn. Vẫn chưa cảm nhận cơn bão xuất hiện...sao lâu nhỉ...

Chương 3 : Allegretto (nhanh, nhưng hơi chậm hơn Allegro) – gam Dm,  chà, mình như bị cuốn hút vào giai điệu và thấy như mê hoặc, bão tố của Beethoven đã tới rồi...thật tuyệt vời. Có một lần mình đoc ở đâu đó câu nói của Beethoven khi trả lời người phụ tá của mình – Anton Schindler về ý nghĩa của Sonata số 17 opus 31: “ Anh hãy đọc vở kịch “the Tempest” của Shakespear, và người phụ tá của ông đã đăt tên cho Sonata này là Cơn bão...
Mình thích nhất phần 3 này, và cứ nghe hoài không chán...

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Fantasia No. 3 in D minor, K. 397

Fantasia No. 3 in D minor, K. 397 (Khúc ngẫu hứng số 3 cung Rê thứ) là một bản nhạc soạn riêng cho piano do Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791) sáng tác vào năm 1782 và là bản nhạc khá phổ biến của ông dành cho piano. Nếu nghe kỹ sẽ thấy nhịp điệu hơi khác lạ, đúng với ý nghĩa của chữ Fantasia (ngẫu hứng) .
Cùng nghe Tzvi Erez nghệ sĩ piano người Israel, sinh năm 1968 chơi bản này nào....

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

Những cảm nghĩ về cây tần bì ....


Cây Tần bì là loài cây tôi luôn ám ảnh trong đầu với những giai điệu bài hát “Tôi hỏi cây tần bì” mà tôi đã biết từ hồi còn sinh viên. Đứng trước hàng cây tần bì lâu năm , xòe những tán lá rộng, kiêu hãnh khoe sức mạnh và bản lĩnh của một loài cây thân gỗ lớn, và độ cao có khi tới hơn 40m, chẳng thua gì các cây phong, lippa, sồi...chúng tôi chỉ biết ngắm, và nép mình vào một trong những thân cây, rồi thử vào vai chàng thanh niên si tình nọ đi tìm người mình yêu...

Trong vòm lá xum xuê của loài cây đã mang dấu ấn buồn, nhưng vô cùng đẹp về tình yêu, đã trở thành biểu tượng về sự ngang trái, trớ trêu của tình yêu nam nữ, tôi lại nghĩ đến tác giả bài thơ “Tôi hỏi cây tần bì” Vladimir Kirshon (1902 – 1938) với một cuộc đời bất hạnh, chết trong tủi nhục vì bị xử bắn năm 1938, cho dù 1955 ông đã được phục hồi danh dự... 


Bài thơ “Tôi hỏi cây tần bì” đã trả lại tác giả của nó danh dự và sự trong sạch, và hơn cả là lòng mến mộ cùng lòng cảm thông với tác giả tài năng vắn số này. Năm 1975 bài thơ “ Tôi hỏi cây tần bì” được nhạc sĩ Michael Tariverdiev phổ nhạc thành bài hát và được đạo diễn diễn Eldar Ryazanov đưa vào bộ phim “ Số phận trớ trêu” thì bài thơ này trở nên bất tử.


Dường như những tán lá của cây biết nói mà sao chúng tôi cảm nhận tiếng thì thầm tâm sự của cây, diu êm, thân thiện vô cùng, hoàn toàn không hề có một chút gì buồn bã bi thương , làm tôi bất giác xóa tan mọi ám ảnh về sự trắc trở buồn đau trong tình yêu vốn đã ăn sâu vào tâm hồn tôi từ hàng chục năm về trước...


Tần bì thân yêu ơi, sao cây đáng yêu và thân thiện với khách phương xa chúng tôi đến thế, hẹn ngày trở lại với cây nhé, và chắc chắn chả ai trong chúng tôi muốn đi “hỏi cây tần bì” về những chuyện làm cây trăn trở , bối rối, đau buồn, mà sẽ là những nụ cười tươi thấm đẫm niềm vui, tình người, tình nhân loại...





Стихи: Владимир Киршон
Музыка: Микаэл Таривердиев
Я спроси́л у я́сеня: «Где моя любимая?»
Я́сень не отве́тил мне, кача́я голово́й.
Я спроси́л у то́поля: «Где моя любимая?»
То́поль заброса́л меня осе́ннею листво́й.
Я спроси́л у о́сени: «Где моя любимая?»
О́сень мне отве́тила проливны́м дождём.
У дождя ́ я спра́шивал: «Где моя любимая?»
Долго до́ждик слёзы лил за моим окно́м.
Я спроси́л у ме́сяца: «Где моя любимая?»
Месяц скрылся в о́блаке, не отве́тил мне.
Я спроси́л у о́блака: «Где моя любимая?»
О́блако расста́яло в небе́сной тишине.
«Друг ты мой еди́нственный, где моя любимая.
Ты скажи
́ где скрылася. Знаешь, где она?»
Друг отве́тил пре́данно, друг отве́тил и́скренне:
«Была тебе любимая, была тебе любимая,
была тебе любимая, а стала мне жена».

Я спросил у ясеня 
Я спросил у тополя 
Я спросил у осени...

Tôi hỏi cây tần bì
Lời thơ: Vladimir Kirshon
Nhạc: Michael Tariverdiev
( Diệu Trinh chuyển ngữ)
Tôi hỏi cây tần bì, "người yêu tôi ở đâu"
Cây lắc đầu không buồn lên tiếng
Tôi hỏi cây phong, "người yêu của tôi đâu"
Cây  xối xả trút lá thu vàng úa

Tôi hỏi mùa thu , "người yêu của tôi đâu"
Thu trả lời bằng cơn mưa không ngớt
Tôi hỏi mưa , người yêu của tôi đâu
Mưa tí tách lệ sầu bên khung cửa sổ

Tôi hỏi vầng trăng non, "người tôi yêu ở đâu"
Trăng ẩn mình trong bóng mây  lặng lẽ
Tôi hỏi mây, người tôi yêu ở đâu
Đám mây  tan giữa  trời cao xanh thẳm

Bạn thân của tôi ơi, "người tôi yêu ở đâu"
Nói tôi nghe, nàng đang ở nơi đâu
Người bạn thân thiết,
Bạn trung thành trả lời
"Người yêu bạn ngày ấy,
Giờ đã thành vợ tôi"

Gặp tần bì tôi hỏi
Gặp cây  phong tôi hỏi

Tôi hỏi cả mùa thu....

Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

BIỆT PHỦ, CHÙA, VÀ TÌNH BẠN

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Truyện ngắn

   Từ trước tới nay, hắn vẫn cho rằng, tình bạn là một thứ tài sản quý giá, thiêng liêng; cho dù, vì điều âý có không ít người đã bĩu môi dè bỉu hắn là ngây thơ, và ngây ngô, song hắn thủ cựu với ý nghĩ: nếu có đem hắn vào cối giã, mọi thứ tan thành bột thì chắc chắn niềm tin đó vẫn nguyên vẹn...
Nhưng đến hôm nay, cái niềm tin gần như là tín điều đó của hắn bị lung lay dữ dội, khi quan hệ của hắn với một người bạn thân thiết nhất, gần như “con chấy cắn đôi”, đã rạn nứt khó có cơ hàn gắn - lạm dụng từ ngữ của giới kinh tế-chính trị, là phá sản! Và sự phá sản đau đớn này, không ngờ lại có liên quan, theo quy luật quả báo của đạo Phật, tới những biệt phủ và chùa ở một tỉnh miền núi vẫn phải xin Trung ương cấp gạo cứu đói...
Bạn thân của hắn, Trần Linh, đang giữ chức tổng biên tập tờ báo oai nhất tỉnh này, kiêm phó chủ tịch Hội VHNT tỉnh, và cũng sắp tới lúc “chuẩn bị hạ cánh an toàn, dù là Bật Mã Ôn thì cũng là quan ch...ức...ức...”- như lời đùa vui của anh lúc hai thằng khề khà bên chiếu rượu tổng kết cuối năm của dân văn nghệ tỉnh mà hắn được mời ké nhân một lần lên thăm bạn. Trần Linh quảng giao, hay bốc đồng, có sức thuyết phục đám đông không chỉ bởi “võ mồm” nổi tiếng từ hồi học văn khoa tổng hợp mà còn bởi cái nhiệt huyết từ bên trong lúc nào cũng như ào ạt tràn ra bên ngoài. Khoảng ngót chục năm trở lại đây, anh bỗng dưng trở nên trầm lắng, không còn nữa những cơn sôi trào nội tâm tựa núi lửa hoạt động... Trước đây, anh hay chê hắn, ông là cái thằng mắt lườm lườm sau đít chai không ra trận cầm súng ngày nào nên không thể hiểu nổi cái giá của máu xương, sức mạnh của lòng căm thù... Dù cũng có lúc hắn nổi nóng, cãi lại cật lực ông bạn nhà báo cựu chiến binh, song rồi hắn hiểu: anh trách yêu bạn, lòng anh trong sáng, cái trong sáng của một thế hệ- trong đó có hắn- đã tình nguyện dâng hiến cả tuổi thanh xuân và sinh mệnh cho sự tồn vong của Đất nước. Giờ, anh đã như một con người khác, hay trầm ngâm, buồn bã ra mặt, ngay cả những vần thơ hùng tráng nhất của anh đọc lại trước các bạn cũng như ẩn giấu tiếng nức nở và những gịot nước mắt. Những lúc ấy, anh chợt trở nên gần gũi thân thiết với hắn một cách kỳ lạ, hơn hẳn trong những năm tháng nghèo đói... Thời đó, là một nhà báo kiết xác, bị vợ rầy la, anh đành bớt thời giờ làm thơ viết báo chui để xin nhận trông xe bí mật cho một công ty thương mại, che kín mặt cả buổi tối, và sắm cho lũ con gái con trai lốc nhốc mỗi đứa một bộ đồ bán nước chè ngoài ga ban đêm. Cứ mỗi khi hắn rảnh rỗi lên chơi, hoặc kết hợp công việc vào thăm gia đình anh, anh mừng như bắt được vàng, và thét vợ như một ông tướng Quảng Lạc phải vào ngay chuồng gà nhép và ra ngay mảnh vườn còi để làm sao đãi bạn tươm tất nhất... Có lần, hắn đến, cả nhà đi vắng hết, hắn ngậm ngùi nhìn những vách nứa xập xệ, mái tranh thủng lỗ chỗ, cái bàn viết cáu bẩn xộc xệch, và hắn ứa nước mắt thương bạn, thương mình...
Nhưng, nhờ ơn trời, bạn hắn, cũng như nhiều kẻ thuộc nhóm người được trở nên bất hủ bởi cái định nghĩa “nhà văn, nhà báo, nhà giáo - nhà nghèo” đã bươn trải đến bươu đầu sứt trán để vượt qua “Thời gian khổ”(1) vĩ đại đó mà không bị xây sát nhiều lắm về lương tâm, để hùng dũng bước vào cơn lốc xoáy thị trường dị dạng. Trần Linh đã có một ngôi nhà nhỏ bằng gạch với đôi mảnh vườn xinh xắn, nhưng như anh nhận xét: nó chỉ bằng cái vẩy so với những lâu đài lớn, dinh thự khủng và siêu biệt thự của các quan chức đầu tỉnh đang đua nhau mọc lên trong cái thành phố mới thoát thai từ thị xã nghèo kia! Anh còn nói thêm, vẻ chua chát: Thôi ông ạ, không “đú” được với lũ ăn tàn phá hại đó thì cũng đến lúc chúng mình cần học cách tự thoả mãn của một nhân vật với quả phúc bồn tử vườn nhà mà Sêkhốp từng tả thật hay: “Chà, ngon tuyệt! Anh hãy nếm thử xem”. Và cũng đành uống cặn của bọn họ thôi, biết làm thế nào... Anh thở dài để che dấu sự tuyệt vọng, và nỗi uất ức đang bị kìm nén trong trái tim chắc đã bắt đầu mệt mỏi.
Bẵng đi hai năm, hắn mới lại có dịp lên vùng đất từng lưu dấu nhiều kỷ niệm của tuổi thơ lẫn tuổi trẻ của hắn... Không phải tới thăm những khu sinh thái hiện đại bát ngát, những biệt phủ choáng lộn tựa trong mơ bắt đầu xuất hiện ở chốn “khỉ ho cò gáy” xưa. Hắn lên lần này, khởi nguồn từ câu chuyện của một bà vãi nghèo tỉnh T - đồng hương của bạn hắn...
Bà ta mang một mớ đơn từ kiện cáo, khiếu nại của những tín đồ Phật tử tới rất nhiều cơ quan Nhà nước, tổ chức phi chính phủ ở Thủ đô. Bởi chẳng ai thèm quan tâm tới chúng, nhất là khi những người có trách nhiệm và quyền hạn đã bị bội thực bởi những kiện cáo khiếu nại quanh chuyện đất đai, thì chúng mới may mắn, đúng hơn là tình cờ lọt vào tay hắn. Và qua một Phật tử quen người Hà Nội, hắn đã tìm được bà ta trong một quán cơm chay bình dân hiếm hoi đất Hà thành. Sự thật kinh khủng trong những lá đơn viết tay nghệch ngoạc khiến hắn sởn cả gai ốc. Sự thật và lòng phẫn nộ, khinh bỉ, căm ghét của nhiều Phật tử nghèo đối với một vị đại đức có chức sắc trong hội đồng trị sự GHPG tỉnh này. Một sư hổ mang, một tăng chúng vi phạm hầu hết các giới luật của người tu hành đạo Phật ở cái mức thậm tệ và trơ tráo, vượt khỏi mọi sự hình dung thông thường. Và ông ta đã dùng mọi thủ đoạn hèn hạ nhất nhằm ngăn chặn, triệt đường tất cả những vị sư nào định lên lãnh địa đó trụ trì mà không thần phục, không cung phụng ông ta. Mọi lá đơn kiện đều bị vô hiệu hoá ở một xứ sở có điều kiện hơn bất kỳ nơi nào khác cho luật rừng tác yêu tác quái... Trong đời làm báo, hắn chưa bao giờ nắm được trong tay nhiều chứng cứ chân thật và sinh động đến thế! Hắn chợt run lên, không phải vì bản năng nghề nghiệp được đánh thức, mà vì một sự kinh ngạc dần dần bị nỗi căm giận chiếm chỗ.
Hắn quyết tâm hành động, dù chưa rõ là bằng cách nào, để giúp các bà vãi nghèo nơi ấy...
Tới tỉnh, nơi đầu tiên hắn đến là nhà bạn hắn. Trần Linh phấn khởi vô cùng, bắt tay hắn thật chặt, lắc mãi, sau đó còn giang cả hai cánh tay ôm choàng lấy hắn. Ngôi nhà nhỏ đã được thiết kế lại nội thất theo mode hiện đại, cùng các tiện nghi đắt tiền kiểu mới nhất không có gì để chê. Một mảnh vườn biến mất, xuất hiện một ngôi nhà gỗ theo kiểu cổ, trang trí cầu kỳ, không cần thạo lắm cũng có thể nhận ra chúng làm toàn bằng gỗ quý: lim, nghiến, lát...Trần Linh hăng hái dắt hắn bước vào ngôi nhà gỗ với các câu đối, đại tự, các đồ thờ mới cóng, anh kính cẩn đốt hương rồi đưa cho hắn vài nén... Trong cuộc rượu linh đình chiêu đãi bạn, khi đã ngà ngà, Trần Linh hồ hởi khoe mấy đứa con mình đã trở thành viên chức Nhà nước, tự hào rằng, người ngoài thì phải tốn không biết bao nhiêu tiền của, chạy chọt đủ kiểu mà không xong, còn Trần Linh thì khác, được các vị ấy tôn trọng, thậm chí tôn thờ; Trần Linh, tai mắt của tỉnh, tiếng nói của các vị lãnh đạo tỉnh, một tiền đồn của tư tưởng chính thống, vì thế, con cái Trần Linh được coi như con cháu lãnh đạo tỉnh... Hắn ù cả tai, hoa cả mắt, chẳng phải do rượu ngâm cây thuốc phiện được Trần Linh rót liên tục cho bạn quý, tửu lượng của hắn đã được thử thách suốt thời trai trẻ ở miền núi, giờ đã ăn thua gì! Sau hơn hai năm, bạn hắn từ một anh chàng mảnh khảnh, khắc khổ với những đau đáu suy tư văn chương, triết học, thời cuộc, đã trở nên bệ vệ với vẻ niềm nở kiêm xun xoe như một ông giám đốc du lịch làm ăn thất bát giờ mới phất trở lại. Đó là lý do để hắn bắt đầu thận trọng, và không xì ngay ra mớ đơn kiện như ý định lúc đầu. Hắn dò hỏi. “Ông có quan tâm đến tình hình Phật giáo địa phương?” - “Ồ, đó là một lĩnh vực nhạy cảm” - “Ôi chao, ông đúng là giọng tuyên huấn nghề nghiệp! Mấy bà vãi nghèo đang mong có mái chùa bé con con để lạy Bụt và quên mọi thứ nhố nhăng sự đời đi, thì nhạy cảm cái cóc khô gì!” - “Ấy, ông đừng có mà nghe một chiều” - đến lượt Trần Linh cảnh giác với tôi, hạ giọng - “Tôi nói thật nhé, đừng động tới ổ kiến lửa... Ông đã nghe phong thanh gì về ông đại đức trụ trì chùa Y rồi? Tin đồn vớ vẩn đấy! Trâu buộc ghét trâu ăn, thói đời đáng sợ thật. Đừng có dại dột sờ dái ngựa... Nào, cạn, quên béng chuyện đời lẫn chuyện đạo đi! Đất này là đất dữ đấy! Ông còn nhớ cuốn tiểu thuyết Nam Mỹ ”Miền đất hung bạo” năm xưa ông mang lên cho tôi mượn chứ?”
Một kỷ niệm văn chương đã trở thành tín hiệu đe doạ, trấn áp chăng?
Đúng như hắn đã dự cảm.
Chiều tối hôm đó, lấy cớ trở lại nơi cũ hắn từng ở với bà cô hồi sơ tán, hắn rời “ổ rượu” của chàng quan chức hạng bét chuẩn bị về hưu và anh trọc phú mới nổi Trần Linh để bí mật đến với nhân chứng đầu tiên. Ông Phật tử này từng làm người gác cổng vài năm cho chùa Y, một trong những chùa lớn nhất tỉnh T, từng nhiều lần lúc nửa đêm phải mở cửa chùa cho ông sư hổ mang dẫn gái qua cổng tam quan; còn cô gái khi bị bỏ rơi thì tới trước cửa chùa chửi bới như giữa chợ... “Ô nhục quá!”- nhân chứng của hắn đau đớn thốt lên - “Nhưng chúng tôi chẳng còn tin vào ai nữa rồi! Bao đơn từ gửi lên các ban ngành của tỉnh, lão ấy tìm cách nuốt hết, và thách thức trong một trận say: ta có nhiều tiền hơn cả nước sông kia hiểu chửa, ta mua được cả hồn Ngọc hoàng thượng đế nữa là loại kiết xác như Phật tử các ông các bà, những kẻ mà tiền của công đức, cúng dường chẳng đủ cho ta tiếp khách một chầu bia suông!...” Và, ông nhân chứng đã cho hắn biết cái điều hắn chẳng muốn nghe: Bạn hắn, một nhà báo lớn của tỉnh, một nhà thơ thành danh nơi xứ Mây, cũng là kẻ đã nhiều lần ngồi chè chén say sưa, tâm đầu ý hợp với lão sư hổ mang ngay trong địa phận chùa, đã tỉ tê thế nào đó khiến cho kẻ tu hành giả mạo kia phải tài trợ mấy cuộc hội thảo văn học nghệ thuật, mấy cuộc thi sáng tác thơ, văn, nhiếp ảnh, rồi kinh phí để in hàng đống sách thơ cho mình và hội viên; những việc đó được Uỷ ban tỉnh tuyên dương, tặng một lô bằng khen theo đề nghị của bạn hắn, và lão sư lấy chúng làm dày thêm lá chắn cho mình mỗi khi làm điều thất đức, không từ cả việc thuê bọn đầu gấu doạ nạt, trấn áp bất cứ người lương thiện nào dám tố cáo, hay chỉ dám ho he thắc mắc về vị trí, lợi quyền của y với tư cách một lãnh chúa gian tham có thờ Phật và mặc áo tu hành!
Sáng hôm sau, rời nhà trọ, hắn tìm tới nhà bà vãi B - người mới gặp ở Hà Nội tuần trước. Đứa cháu cho biết bà B đang ở nơi các bà vãi thường tụ họp. Hắn lại mò đến đó. Một ngôi nhà tạm độ ba chục mét vuông được dựng lên bên sườn đồi lúp xúp cây cỏ hoang dại, bên trong đặt ban thờ Phật đơn sơ mà ấm cúng. Mấy chục bà vãi đang chăm sóc các luống hoa quanh nhà và trang hoàng “ngôi bảo điện” bằng hoa, quả. Thấy hắn, các bà vãi bộc lộ nỗi vui mừng kín đáo, như là sự việc đương nhiên phải thế. Các bà thay phiên nhau, chậm rãi kể lại khúc nhôi sự tình... Một vị đại đức trẻ đang tu tập ở xứ Đông, nhân một lần theo tăng bạn lên chơi, yêu mến cảnh và người nơi đây, thấy chưa có chùa nên ngỏ ý muốn góp công của xây một ngôi chùa nhỏ, và sẽ xin làm trụ trì chùa. Như gặp nắng hạn mong mưa rào, các Phật tử vùng này phấn khởi, lo xin đất, cùng vị đại đức nọ chạy mọi thủ tục xong xuôi. Nhưng, suốt gần 10 năm trời, ngôi chùa vẫn chỉ nằm trên bản vẽ thiết kế ban đầu do một kiến trúc sư Phật tử cung tiến và các giấy tờ liên quan. Đây là đơn kiến nghị mới nhất, sau hàng mớ đơn từ, sau nhiều năm chờ đợi và chạy chọt đủ kiểu, với lời lẽ nhẫn nhịn, chịu đựng, song không giấu nổi sự bất bình, bực dọc, và chắc là phải nhờ vả người nào đó viết hộ cho đúng quy cách lẫn chính tả :
“...Ngày 1/1/2008 toàn thể nhân dân và 100 phật tử có hộ khẩu tại 7 thôn xã Thanh Minh đã có đơn gửi UBND tỉnh T và Ban trị sự GHPGVN tỉnh T với nội dung: Đề nghị giúp đỡ xây dựng chùa Thanh Minh và thỉnh mời Đại Đức Thích Thanh Quý về trụ trì, xây dựng chùa Thanh Minh, thành phố T...
Ngày 25/1/2008 VP UBND tỉnh T đã có Công văn 727/CV/UBND gửi Sở Nội vụ tỉnh T giải quyết nội dung theo nguyện vọng của nhân dân và bà con Phật tử xã Thanh Minh.
Tuy nhiên cho tới giờ, sau 09 năm, với năm lần đơn gửi tiếp theo, vẫn chưa hề có văn bản nào trả lời.
Chúng tôi thiết nghĩ, Đạo Phật là từ bi và GHPG tỉnh T có những quy định theo tính chất địa phương, đúng sai chúng tôi không bàn cãi, nhưng đề nghị của Đại Đức Thích Thanh Quý là hợp lý, và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân cùng tín đồ phật tử xã Thanh Minh...”
Đọc lá đơn, đầu hắn ong lên bởi loảng xoảng các từ ngữ hành chính: công văn, kiến nghị, đề nghị, văn bản...Tuy nhiên, kết hợp với những tin tức đã thu thập được, hắn cũng hiểu ra điều chủ yếu: việc chậm trễ này chỉ có một nguyên nhân chính, đó là sự cố tình cản trở của lão sư trụ trì chùa Y và đang là phó Ban TSGHPG tỉnh T, được sự tiếp tay đắc lực của những người có quyền hạn tỉnh này!
Trong bữa cơm chay giản dị chiêu đãi nhà báo của các vãi nghèo, giữa khi căng thẳng tìm cách giúp họ sao cho phải lẽ và có kết quả, hắn nghe được loáng thoáng lời các bà: “Rau sạch đấy, cậu đừng lo...”- “Cái lão sư ấy à... Đồ rắn độc... Nhiều thủ đoạn lắm... Cậu cần giữ mình đấy...”- “Tội cho thầy Thanh Quý quá... Bơ vơ bao năm nay...”- “Thế mà vẫn nhẫn nhịn, vẫn cầu mong cho cái lão sư rởm hồi tâm và tử tế với đồng đạo...”- “Dạo tiếp quản chùa Y, lão cho đập bỏ hết những tượng Phật, đồ thờ cúng dường thuộc sư trụ trì trước, cho làm lại sạch...”- “Giá như lão đem thí cho các chùa nghèo như ta thì đỡ quá, các bà nhỉ...”
Trở về Hà Nội, đang loay hoay với đống tư liệu và đơn từ đủ loại kia, hắn được biết thông tin nóng nhất: một phóng viên trẻ của báo X vừa bị bắt tại thành phố T trong khi làm loạt phóng sự bài và ảnh về những biệt phủ của hàng loạt yếu nhân tỉnh T đương làm nổi sóng dư luận. Đọc qua mấy bài báo về vụ bắt bớ, và bằng trực giác, hắn lờ mờ phỏng đoán: cậu phóng viên mà hắn vẫn khâm phục sự dũng cảm nhưng chưa hề quen biết này chắc đã bị gài bẫy... Hắn sực nhớ đến người bạn đang làm quan chức báo chí - văn nghệ tỉnh T, hắn sẽ nhờ anh ta hỏi cho ra nhẽ. Và nếu quả là chuyện gài bẫy thực, may ra, tiếng nói của anh ta sẽ giúp được chút gì chăng cho cậu phóng viên đương gặp nạn? Hắn giở di động ra gọi. Không nghe máy. Hay là Trần Linh đã nhạy cảm được điều gì? Mà một việc khá hệ trọng thế này, gọi điện thoại có nên không? Biết đâu, một kẻ hay lo chuyện trời ơi đất hỡi như hắn cũng đã bị nghe trộm? Thế là hắn lại tất tả nhảy xe đò lên tỉnh T.
Tới trước cổng tiểu biệt thự của Trần Linh, hắn bỗng đứng sững lại. Lần đầu tiên hắn cảm thấy ngại ngùng, thậm chí e sợ khi đến nhà người bạn thân thiết này. Hắn e sợ, bởi chút hy vọng của hắn không khéo biến thành bong bóng xà phòng. Và hắn sợ trước quá khứ đẹp của tình bạn đang bủa vây hắn, hoành hành cái tâm tư đa cảm của hắn... Nhưng rồi, hắn cũng quyết định bấm chuông. Một con chó nòi săn lao vụt tới sủa vang nhằm khẳng định thêm cho vị thế của chủ. Vợ Trần Linh te tái chạy ra, khắp người lấp loá nhẫn vàng, vòng vàng trong nắng trưa. “Nhà em đang đi ăn tiệc với các anh trên tỉnh, anh cứ vào tự nhiên, người nhà cả mà!” Suýt nữa thì hắn lầm lẫn chữ “người nhà” dành riêng cho hắn với “các anh trên tỉnh”! Vợ Trần Linh sau khi đã hỏi han đến xóc óc và biết rõ hắn đã ăn uống no say rồi, gọi cậu con trai đầu ra tiếp hắn. “Chú lên một mình à? Công việc hay chuyện riêng, hả chú?” Hắn vội xoá ngay đi cái ấn tượng về cái lối như tra hỏi của cậu trai. “Chú lên chơi thôi. Nghe nói, bố cháu vừa in tập thơ, tuần trước chú lên chưa được tặng...”- “Ồ, tưởng gì, bố cháu ký tên đóng dấu sẵn đây này, nhờ cháu phân phát cho mọi người khi bố cháu không có nhà...”
Thì ra, đây chính là tập thơ được in bằng mồ hôi nước mắt của những Phật tử nghèo mà lão sư hổ mang đã trấn lột! Hắn chua chát thầm nghĩ, tập sách trên tay chợt nặng như cục đá. Cậu con trai pha nước chè: “Đây là chè Shan tuyết sạch trăm phầm trăm, một tôm một lá, sao bằng tay chú ạ, nhà cháu chỉ mời người quen thân thôi...” Rồi cậu ta xăng xái bật đầu đĩa DVD lên. “Bố cháu vừa mang về, bảo là có hầu hết những nhân vật quan trọng của tỉnh. Cháu cũng chưa kịp xem.” Màn hình xuất hiện những gương mặt ở lễ động thổ xây dựng công trình du lịch sinh thái, sân sau của một “phụ mẫu chi dân” cỡ bự tỉnh mà có lần Trần Linh đã kể cho hắn với thái độ khinh miệt. Những gương mặt béo tốt, bóng nhẫy, tự mãn, và khi tươi cười trong men rượu bia lại vô tình lộ ra vẻ lỳ lợm nham hiểm... “Đây là... Đây là... À, bà này tên là Nga vừa mới lên chót vót, ông này tên là Hân vừa chiếm chỗ của ông Đán”. Hắn chợt nhận ra bạn hắn, nhà báo nhà thơ quan chức tép riu đang xăng xái hân hoan vác cốc bia lửng đi tới các bàn quan chức lớn để chúc tụng, vẻ mặt bợ đỡ trong ma men càng nổi lên phừng phừng như tô điểm thêm sự tinh xảo cho một vũ hội của ma quỷ... Hắn bất giác nhắm tịt mắt lại trong một nỗi kinh hoàng chưa từng thấy. Đó là chân dung thật nhất của bạn hắn vào lúc đó. Hắn vô thức đứng dậy, vác túi lầm lũi đi ra khỏi căn nhà, giữa lúc cậu trai đang nhăn nhở hoan hỉ với những cảnh hội chợ ăn chơi phè phỡn hứa hẹn nay mai cậu sẽ dự phần...
Bên dòng sông chói chang cuồn cuộn chảy về xuôi, hắn nhìn thấy bao ký ức đẹp đẽ của hắn đang bị kéo trôi tuột đi cùng những sự thô bỉ, trâng tráo, hể hả đến buồn nôn mà hắn vừa được chứng kiến. Và hắn cũng được chứng kiến sự sụp đổ của những niềm tin ngây thơ còn sót lại trong hắn, cùng sự phá sản đến thảm hại của một tình bạn trải suốt bốn chục năm trời khốn khó lận đận, ngay giữa tâm hồn hắn. Một cái hố trống rỗng khủng khiếp hiện ra trước hắn, vây quanh là những biệt phủ đang vùn vụt vươn lên tựa những cây nấm độc khổng lồ đè bẹp dí một ngôi chùa bé nhỏ... Hắn bỗng sực nhớ mục đích chuyến đi lần này... Cậu phóng viên báo X nọ, nếu không bị gài bẫy, thì biết đâu cũng đã tự rơi vào cái bẫy của sự phù hoa mà phần đông lũ quan chức hư hỏng đang bầy đặt ra - theo đúng như “quy trình” mà bạn hắn đang lao đầu vào? Hắn không hiểu nổi mình là ai, mình sống để làm gì nữa. Mọi sự đều trở nên khó hiểu quá chừng! Lúc này, chỉ có một điều an ủi nhỏ bé duy nhất giúp hắn tỉnh táo, là bạn hắn chắc sẽ không đến nỗi trở thành kẻ phản trắc, kẻ sẵn sàng bán đứng bạn vì quyền lợi riêng!... Rồi sau đó, một ý nghĩ chợt đến và miên man theo dòng lũ: Một xứ sở mà có những quan lại như thế, hắn bị đánh cắp tình bạn, cùng sự xuất hiện những ngạ quỷ khoác áo cà sa, là điều không khó hiểu... Một xứ sở có những lâu đài biệt phủ lộng lẫy đồng thời là những cái bẫy đểu cáng nhằm tha hoá con người và thủ tiêu công lý, là điều không khó hiểu...
1. Tên một tác phẩm nổi tiếng của văn hào Anh S. Dickens.
Mai An NAT
Hà Nội, đầu tháng 7-2017

Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

Nhà bảo tàng "Trận chiến Borodino"


Theo dòng lịch sử, 7/9/1812, tại làng Borodino (Moscow) của Nga khoảng 120km về phía Tây đã diễn ra một cuộc chiến đẫm máu giữa quân đội Nga dưới sự chỉ huy của nguyên soái Kutuzov và quân Pháp do Napoleon I chỉ huy. Người ta vẫn gọi đây là Đại chiến thế giới thứ nhât (hoặc chiến tranh vệ quốc lần thứ nhất vĩ đại) vô cùng đẫm máu mà oanh liệt, vĩ đại , đã đưa nước nước Nga thời kỳ đó lên tầm cao rực rỡ vinh quang trên võ đài thế giới.

Bảo tàng "Trận chiến Borodino" được Nga hoàng Nilolai 2 cho xây dựng vào năm 1912 tại Moscva , tức là 100 năm sau đó. Nhưng đến năm 1918 bảo tàng bị đóng cửa, bức tranh tròn về cuộc chiến vĩ đại được cất đi cho đến năm 1962 người ta đã phục chế lại và từ đó bức tranh đã trở thành khu tưởng niệm , và cũng là niềm tự hào kiêu hãnh của người Nga về những gì ông cha họ đã làm để bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình.

Chúng tôi bước từng bước lên cầu thang để bước vào khu tưởng niệm chiến tranh. Môt bức tranh tròn khổng lồ rộng hàng chục mét, dài hàng trăm mét với những miêu tả chi tiết về cuộc chiến dần dần hiên ra trước mắt chúng tôi....

Giữa những cảnh thật được dựng lại, những mẫu vật có thật xen kẽ tranh vẽ, sự kết hợp đồng điệu làm chúng tôi cảm giác như chính mình đang ở trong cuộc chiến, cùng hồi hộp, nín thở theo dõi cuộc chiến , với hình ảnh các lính Nga mũ xanh, lính Pháp mũ đỏ trong những bộ quân phục gần giống nhau, ngôi làng Borodino bốc cháy trong khung cảnh giáp lá cà giữa quân Nga-Pháp. Tôi gần như nín thở khi nhìn thấy vị tướng Pyotr Bagration (1765 - 1812) , một vị tướng nga gốc Gruzia mà tôi vô cùng ngưỡng mộ khi đọc “Chiến tranh và hòa bình” của đại văn hào Lev Tonstoi, một vị tướng mà chính Napoleon đã phải thốt lên rằng : “ Nước Nga không có tướng giỏi, ngoại trừ Bagration mà thôi”. Tuy nhiên, chiến tranh vẫn là chiến tranh, Bagration đã ngã xuống trận địa Borodino ngày 24/9/1812 .

Nước Nga đã mất Bagration, nhưng nước Nga vẫn còn vị nguyên soái Mikhain Illariônôvích Cutudốp (1745-1813). Điều đau đớn nhất là trước khi qua đời, Bagration vẫn chỉ huy cuộc chiến, và chính sách vườn không nhà trống rút quân khỏi Mosva của Cutudop đã làm ông sửng sốt, khiến cái chết đến với ông nhanh hơn....

Tôi cảm nhận trận chiến trong bức tranh không hề nói lên bên nào chiến thắng, những người lính đều xả thân mình vì đất nước của họ (thực ra ở thời kỳ chế độ quân chủ của Nga, và thời kỳ Đế quốc của Pháp, giới quí tộc nắm hết mọi quyền lợi. Chỉ có quí tộc mới được làm chỉ huy. Những người lính quèn - những nông nô chỉ biết chiến đấu cho những tham vọng vô hạn của những ông chủ của họ), dù Pháp hay Nga, hay quân đồng minh trong hỗn độn của những cuộc giáp lá cà như vậy chỉ gợi lên trong tâm hồn chúng tôi một nỗi kinh hoàng về sự khốc liệt tàn bạo và vô nghĩa của chiến tranh. ..






Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

Những cảm xúc về hoa Tử đinh hương....



Lang thang dọc những con đường thơm ngát mùi hoa tử đinh hương (siren) với hai màu trắng và tím, tím đến nao lòng , và trắng thật mong manh..., chúng tôi cảm giác mình hạnh phúc và may mắn biết bao. Từng cặp đôi nam nữ thanh lịch cầm tay nhau rảo bước , ngước lên bầu trời cao, miệng cười rạng rỡ làm chúng tôi háo hức nép vào hoa để cùng cảm nhận vị ngọt tình yêu thiên nhiên tuyệt vời như thế nào...

Siren đã trở thành một phần trong trong đời sống của người dân Nga, là niềmtự hào mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân nơi đây. Siren đã đi vào thơ ca, nhạc họa như biểu tượng của mùa xuân, của tình yêu, niềm hy vọng với những cảm xúc trong sáng tinh khiết từ nơi sâu thẳm nhất của con người.
“...Trong đời tôi hạnh phúc
Chỉ có một mà thôi
Trong tử đinh hương ấy;
Trên những cành xanh tươi,
Giữa đám hoa thơm ngát
Hạnh phúc nghèo của tôi…”

Những vần thơ của Ekaterina Andreyena Beketova về Siren mộc mạc làm sao, đơn giản làm sao, nhưng cũng trong sáng làm sao!

Từ nhỏ chúng tôi đã ảnh hưởng nhiều nét văn hóa Nga, sách Nga, nhạc Nga, hội họa Nga....Bản thân tôi cũng đã được các bạn người Nga âm thầm giúp đỡ trong những ngày gian khố nhất cuộc đời, nên mọi vật xung quanh tôi sáng lung linh, đẹp kỳ diệu, phảng phất những giai điệu âm thanh, mùi thơm dìu dịu làm chúng tôi cứ ngất ngây trong niềm vui bất tân...

Những cánh hoa tử đinh hương tuy đã cuối mùa nhưng vẫn tuyệt đẹp, và, tôi bỗng liên tưởng tới bức tranh Siren của họa sĩ người Nga gốc Ba lan Михаи́л Алекса́ндрович Вру́бель (Mikhail Aleksandrovich Vrubel 1856 – 1910) nổi tiếng với trường phái Tượng trưng (Symbolist) và Tân nghệ thuật (Art Nouveau). Bức tranh Lilac (Tử đinh hương, siren) ông sáng tác năm 1900, gọi là Nocturne Siren , vì họa sĩ đã vẽ nó vào ban đêm, một cảm hứng thật cá tính, những cánh hoa huyền ảo kỳ lạ, chan chứa tình yêu cứ len lỏi, thấm vào tim ,vào máu. Về hội họa, Nocturne là nói về cảnh ban đêm, nhưng về âm nhạc, thì Nocturne lại là bản dạ khúc ban đêm...trong đầu tôi bỗng dưng lại văng vẳng những giai điệu Nocturnes dịu êm, nồng cháy của F Chopin. Rồi bừng tỉnh , chúng tôi lại trở về với những cánh hoa đẹp mong manh mà say đắm lòng người...


Nocturne Siren 1900 - Vrubel




Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Thành phố cảng biển Кроншта́дт




Thành phố cảng biển Кроншта́дт (Kronstadt) nằm cách thành phố Saint Petertburg khoảng 30km về phía tây, gần vịnh Phần lan, mà chúng tôi vẫn gọi là thị trấn nhỏ bên bờ biển Ban tích...
Nơi đây rất gần Cung điện Mùa hè – một kiệt tác về nghệ thuật được thiết kế làm nơi cư trú đầu tiên của Peter I, và được xây dựng trong 4 năm. ...Tôi sẽ viết về Cung điện này trong bài viết sau. Ở đây, tôi chỉ viết về cảm nhận vẻ đẹp nên thơ, thật thanh bình, yên ả với những hàng cây phong , cây lippa dài bất tận , với những nẻo đường sạch sẽ, vắng vẻ, với nhữn g con người bình dị, và hòa mình với bầy chim hải âu, bồ câu cứ mặc sức thả cánh, hồn nhiên, vô tư bay lượn trong các cánh rừng, các khu dân cư...hình như cuộc sống của chúng đã tạo nên vẻ đặc sắc, thấm đẫm tình người với thiên nhiên, hoa lá, cây cỏ, dường như tất cả cùng chung một nhịp đập, đó chính là điều đã tạo nên chất con người Nga: vô cùng bình dị, nhưng cũng vô cùng dũng mãnh trong công cuộc bảo vệ giữ gìn đất nước của họ qua bao cuộc chiến tranh.


C
húng tôi ghé một khu dân cư với những khu nhà không cao lắm, đã cũ rồi, đâu đó vương vết rong rêu...một cậu bé người Nga xinh xắn lặng lẽ vứt bánh qui cho chim hải âu và bồ câu ăn ở cái sân nhỏ - cửa ra vào khu dân cư. Đàn chim sà xuống ăn bánh, nhìn thấy chúng tôi vù bay đi, rồi lại ngập ngừng hạ cánh xuống, nghe ngóng, rồi mổ lia lịa những mẩu bánh vụn...Không thể kiềm chế xúc động, chúng tôi đã nói với cậu bé cùng chụp hình để kỷ niệm. Cậu bé mỉm cười- cái cười đậm chất Nga, tuyệt vời làm sao, không hề do dự, e thẹn, ngại ngùng...Nhữn g chú hải âu , bồ câu vẫn sà xuống ăn bánh, những hàng cây xanh ngát vẫn tỏa hương thơm dịu ngọt, và chúng tôi, những lữ khách phương xa vẫn ngất ngây , say đắm với vẻ đẹp thiên nhiên và con người của đất nước thân yêu và bí ẩn này....






Cung điện bằng gỗ tại Kolomenskoye




Cung điện bằng gỗ tại Kolomenskoye ở Moscva được thiết kế cho gia đình Hoàng gia Alexis đệ nhất. Tuy cung điện hiện tại đã được phục chế lại hoàn toàn, nhưng vẫn mang đậm bản sắc Nga và với vẻ đẹp rực rỡ, huyền bí vốn có của nó. Cung điện này được hai người thợ mộc thiết kế và xây dựng năm 1667. Đến năm 1767 thì nữ hoàng Ecarerina đệ nhất ra lệnh phá hủy.

Cung điện gỗ tại khu Kolomenskoye là một trong những công trình có khối hình mang hơi thở kỳ diệu, huyền ảo, với một lối kiến trúc đặc sắc , khiến chúng tôi vừa bước tới đã bị cuốn hút, như bước vào xứ sở thần tiên trong những câu chuyện cổ tích không bao giờ có hồi kết...


Bước chân ngập ngừng , ngắm cung điện, và phong cảnh, chúng tôi như muốn thả hết tâm hồn vào cây cỏ, vào những khung cửa sổ bí ẩn, lặng lẽ như muốn thử sức chúng tôi chinh phục thế giới huyền ảo của nó...Và , chúng tôi ngẩng đầu , ngắm nhìn toàn bộ phong cảnh, với những cây tần bì, bạch dương, cây phong....xen kẽ hàng ngàn bông hoa Bồ công anh vàng rực, rồi trắng nhạt nhòa sau khi đã chín, từng chiếc lông tơ rời bay đi, thật mong manh nhưng tràn đầy sức mạnh của niềm tin, mơ ước, khát khao, hy vọng.

(Kolomenskoye : Là tài sản của hoàng gia Nga trước đây, nằm cách Moskva vài dặm về phía đông nam với diện tích 390 ha, trên con đường cổ dẫn tới thị trấn Kolomna )



Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Four pieces (Klavierstücke) for piano, Op.119 của Johannes Brahms

Bốn bản nhạc dành cho Piano (tiếng Đức: ' Klavierstücke ') Op . 119, Johannes Brahms sáng tác vào năm 1893, được trình diễn tại London vào tháng Giêng năm 1894.
Mỗi một bản nhạc trong ba phần đầu tiên được gọi là khúc nhạc ngắn , và một Rhapsody (khúc nhạc vui) cuối cùng . Bản Intermezzo (khúc nhạc ngắn trung gian) đầu tiên Brahms viết trong tháng 5/1893, 3 bản cuối cùng và bản Rhapsody giọng Mi giáng trưởng ông viết trong tháng 6/1893.
Bốn bản (phần) nhạc đó là:1.Intermezzo in B minor (khúc nhạc ngắn trung gian cung Si thứ) - phần nhạc này mình thích nhất vì chất mơ mộng, cứ nửa hư nửa thực, buồn vui lẫn lộn, rất khó tả...
Brahms vốn rất thân với gia đình nhạc sĩ Shumann, đặc biệt là tình bạn trong sáng, vô cùng cao đẹp giữa Brahms và Clara Shumann – người vợ yêu của nhạc sĩ Shumann. Phần này Brahms đã gửi cho clara xem trước. Trong phần này giai điệu được chuyển gam Bm(si thứ) sang Em(Mi thứ), đoạn giữa lại về Dm(Rê thứ).
2. Intermezzo in E minor(khúc nhạc ngắn trung gian cung Mi thứ), ở giữa bản nhạc chuyển sang E trưởng
3. Intermezzo in C major (khúc nhạc ngắn trung gian cung Đô trưởng), gồm 12 ô nhịp
4. Rhapsody in E-flat major( Điệu Rhapsody cung Mi giáng trưởng)


Richter thực hiện toàn bộ 4 bản

 Richter thực hiện phần 1/2


Richter trình bày 3/4

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Без тебя với giọng ca Ani Lorak

Cùng nghe Ani Lorak cô ca sĩ người Ucraina sinh năm 1978 hát bài hát mới của năm 2015 "Không có anh" do Ирина Дубцова (Irina Dubtsova)- nữ nhạc sĩ , ca sĩ trẻ tuổi sinh năm 1982 người Nga sáng tác cả nhạc và lời...
Tuy trẻ trung vậy nhưng nữ nhạc sĩ Irina Dubtsova  đã có khá nhiều tác phẩm hay và sáng tạo từ 2008 cho đến nay...
Mình đã tải vào blog này một số bài hát do nữ ca sĩ Ani Lorak trình bày như «Спроси” (Anh hỏi đi), Миллион алых роз ( Triệu bông hồng đỏ thắm)...mình vốn thích giọng cô ca sĩ này
nào cùng nghe nhé


Стала ветром прошлого зала.
Ни зла, ни боли.
Я смогла, сердце по осколочкам собрать.
Чтоб тебе отдать, навсегда.
Полночь гасит в наших окнах свет.
Ты спишь, а я, прошу рассвет.
Задержать ещё на пол часа.
Чтобы не мешать, тебе.

Припев:
Я хочу, чтобы в тон твоим глазам.
Цвета ночи вдруг стали небеса.
Среди бела дня!
Это счастье меня лишает сил.
Не хочу, чтобы ты меня любил.
Так, как я тебя!
Так, как я тебя!

Всё вернулось на круги своя.
Опять жива моя душа.
Как же раньше я могла дышать, без тебя?
Без тебя?

Припев
Я хочу, чтобы в тон твоим глазам.
Цвета ночи вдруг стали небеса.
Среди бела дня!
Это счастье меня лишает сил.
Не хочу, чтобы ты меня любил.
Так, как я тебя!
Так, как я тебя!

Không có anh
(DiệuTrinh chuyển ngữ)
Em thành ngọn gió lang thang trong căn phòng rộng lớn.
Chẳng đau đớn, cũng chẳng làm hại ai.
Em đã có thể gom hết những mảnh tim vỡ vụn
Để trao tặng cho anh, mãi mãi.

Màn đêm che hết ánh sáng cửa sổ chúng ta.
Anh ngủ, và em mong chờ bình minh tới
Và cứ như vậy trong nửa giờ.
Em không làm anh thức giấc.
ĐK
Em muốn mình hòa vào đôi mắt anh.
Sắc màu đêm tối hóa thành thiên đường.
Giữa thanh thiên bạch nhật!
Hạnh phúc này đã làm em mềm yếu.
Em không muốn anh yêu em.
Như em đã yêu anh!
Như em đã yêu anh!

Mọi thứ đã trở lại bình thường.
Linh hồn em lại hồi sinh.
Làm sao em có thể sống nổi khi không có anh khi đó
Nếu không có anh?
ĐK
Em muốn mình hòa vào đôi mắt anh.
Sắc màu đêm tối hóa thành thiên đường.
Giữa thanh thiên bạch nhật!
Hạnh phúc này đã làm em mềm yếu.
Em không muốn anh yêu em.
Như em đã yêu anh!
Như em đã yêu anh!





Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Waltz op.64 No.2 của F. Chopin

Waltz số 2, ấn phẩm 64 cung Đô thăng thứ  ( Waltz Op. 64, số 2) được F. Chopin sáng tác năm 1847, và Chopin dành riêng Waltz này đề tặng Madame Nathaniel de Rothschild .
Mình còn nhớ ngày cô em họ chuẩn bị thi tốt nghiệp chương trình  Nhạc viện , bản nhạc này là bản bắt buộc em mình phải thực hành trong bài thi. Hồi đó mình đang ở VT- một thành phố biển với công việc bận rộn cùng chồng và con nhỏ. Mỗi lần về SG công tác mình lại tranh thủ về nhà cô, và nghe em họ tập đàn...
Bản nhạc này mình quá yêu thích , đến nỗi những khi mình buồn, thất vọng, hụt hẵng, và có cảm giác chơi vơi trong tư tưởng , tình cảm, mình lại nghe, và bao nỗi ưu phiền tự nhiên tan vào không gian tĩnh lặng bao quanh mình...mình như được tiếp thêm sức mạnh để đứng dậy và bước đi tiếp. 
Nhiều người chơi bản nhạc này, nhưng mình thích Arthur Rubinstein (1887-19820 - nghệ sỹ piano người Mỹ gốc Ba Lan thể hiện  , Rubinstein được coi là người chơi nhạc F.Chopin vĩ đại nhất thế kỷ 20


Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Сутки с тобою (Một ngày bên anh)

Верони́ка Миха́йловна Тушно́ва (Veronica M. Tushnova; 1911 - 1965) - nhà thơ Liên xô nổi tiếng với những bài thơ về tình yêu, bà đã nói về tình yêu với tất cả tâm hồn, thơ của bà rất nổi tiếng và được mọi người yêu mến, thấm đượm những lời khuyên nhủ, khuyến khích mối quan hệ nhân ái giữa con người với con người
Mình đã có bài viết về bài thơ Не отрекаются любя “ (Đừng từ chối tình yêu) của bà.

Hôm nay, mình tải về bài thơ Сутки с тобою, ( Một ngày bên anh) với những dòng nước mắt dường như vẫn còn ướt đẫm từng vần thơ, từng nét chữ.

Theo mình tìm hiểu, thì bài thơ này bà làm trong thời kỳ bà lấy người chồng thứ 2 là Alexander Yashin, người này đã có vợ con, nên không thể rời bỏ gia đình ....Họ chỉ đến với nhau thoáng chốc, rồi lại phải chia tay nhau trong bí mật, buồn tủi và vô vọng , khao khát và cô đơn. Lời thơ của bà đau đớn , nhưng hạnh phúc, bởi vì chúng được quyện chặt vào nhau, làm con người ta vừa cảm thấy được bay bổng vô tận trong tình yêu , vừa như bị dao cứa sâu vào trái tim, vô cùng đau đớn....

Сутки с тобою...
Сутки с тобою,
месяцы — врозь...
Спервоначалу
так повелось.
Уходишь, приходишь,
и снова,
и снова прощаешься,
то в слезы, то в сны
превращаешься,
и снова я жду,
как во веки веков
из плаванья женщины ждут
моряков.
Жду утром, и в полдень,
и ночью сырой,
и вдруг ты однажды
стучишься: — Открой!—
Тепла, тяжела
дорогая рука...
...А годы летят,
как летят облака,
летят-пролетают,
как листья, как снег...
Мы вместе — навек.
В разлуке — навек.

Một ngày bên amh,
Bao tháng ròng xa cách ...
Ngay thủa ban đầu
Đã vậy rồi anh
Anh đi , rồi anh đến
và lại thêm một lần tạm biệt
trong nước mắt, trong giấc mơ
Quay cuồng
và một lần nữa em lại chờ đợi anh
giống như những người đàn bà đang bơi
mãi mãi chờ đợi
các chàng lính thủy xuất hiện
Em đợi hết buổi sáng rồi buổi trưa,
Ròi một đêm ẩm ướt,
Bỗng dưng anh xuât hiện
Anh gõ cửa và kêu: Mở cửa đi em!
Và cánh tay nồng nhiệt, nặng trĩu..
... Rồi năm tháng qua đi ,
như mây bay,
bay chấp chới , chao lượn
như lá, tuyết ...
Chúng mình bên nhau - mãi mãi.
Và cũng ly biệt - mãi mãi.

Вероника Тушнова

(Diệu Trinh chuyển ngữ)

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Xanh ngát Nha Trang...


Rạng rỡ Nha trang
Trong nắng vàng đầu hạ
Sóng nước xôn xao,
Ngơ ngác bóng hoàng hôn

Mây chiều lảng bảng....
Gió cười hay thổn thức
Để biển cứ  mãi xanh
Xanh ngát hồn thơ
Xanh ngát trái tim em?



Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Hungarian Dance số 5 của Johannes Brahms

Johannes Brahms (1833 - 1897) là một nhà soạn nhạc Đức và nghệ sĩ dương cầm người Đức , tuy sinh ra ở Hamburg nhưng Brahms chủ yếu sống và sáng tác ở Vienna , Áo. Người anh họ của mình - một nghệ sĩ và thày dạy piano đã có lần nói về nhóm ba ”Bs” của âm nhạc , anh ấy bảo giới nghệ sĩ , giới học piano chuyên nghiệp đều biết tới cụm từ này dành cho  Johann Sebastian Bach , Ludwig van Beethoven  và Johannes Brahms , cụm từ 3 Bs ở đây được hiểu  là ba nhạc sĩ lừng danh có tên cùng vần  B  chiếm lĩnh đỉnh cao âm nhạc...
Mình được nghe Brahms từ nhỏ qua bản nhạc Hungarian Dance số 5  với tiếng đàn phong cầm của anh trai. Mình thuộc lòng giai điệu bản nhạc này với chất lãng mạn, bay bổng, có phần lãng tử, phiêu du như tên gọi của nó : Vũ điệu Hungari
Một buổi tối, nhân đọc trên FB  của cô bạn giới thiệu một bản nhạc của Giovanni Maradi với tên Sunrise, Sunset...Mình nghe và sững sờ, vì thấy giống giai điệu bản nhạc này của Brahms, tác giả của nó đã mượn giai điệu chủ đạo của Hungarian Dance rồi phát triển thành bản nhạc của mình.....và mình đã nói cho cô bạn về cảm nhận của mình. Hóa ra đạo nhạc, đạo thơ, đạo văn đã từng xảy ra mọi nơi, mọi lúc trên toàn thế giới này...
Bỗng nhiên lòng mình dịu lại. Phải, nỗi buồn của mình nhẹ nhàng trôi theo dòng thời gian, hòa vào những dòng âm thanh dịu ngọt . Âm nhạc là liều thuốc tuyệt vời nhất của mình lúc này...
cùng nghe Hungarian Dance số 5- cung Sol thứ của J. Brahms nào

 

 Còn bây giờ cùng nghe  giai điệu bị đạo và phát triển thành giai điệu mới nào: