Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

Nhà bảo tàng "Trận chiến Borodino"


Theo dòng lịch sử, 7/9/1812, tại làng Borodino (Moscow) của Nga khoảng 120km về phía Tây đã diễn ra một cuộc chiến đẫm máu giữa quân đội Nga dưới sự chỉ huy của nguyên soái Kutuzov và quân Pháp do Napoleon I chỉ huy. Người ta vẫn gọi đây là Đại chiến thế giới thứ nhât (hoặc chiến tranh vệ quốc lần thứ nhất vĩ đại) vô cùng đẫm máu mà oanh liệt, vĩ đại , đã đưa nước nước Nga thời kỳ đó lên tầm cao rực rỡ vinh quang trên võ đài thế giới.

Bảo tàng "Trận chiến Borodino" được Nga hoàng Nilolai 2 cho xây dựng vào năm 1912 tại Moscva , tức là 100 năm sau đó. Nhưng đến năm 1918 bảo tàng bị đóng cửa, bức tranh tròn về cuộc chiến vĩ đại được cất đi cho đến năm 1962 người ta đã phục chế lại và từ đó bức tranh đã trở thành khu tưởng niệm , và cũng là niềm tự hào kiêu hãnh của người Nga về những gì ông cha họ đã làm để bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình.

Chúng tôi bước từng bước lên cầu thang để bước vào khu tưởng niệm chiến tranh. Môt bức tranh tròn khổng lồ rộng hàng chục mét, dài hàng trăm mét với những miêu tả chi tiết về cuộc chiến dần dần hiên ra trước mắt chúng tôi....

Giữa những cảnh thật được dựng lại, những mẫu vật có thật xen kẽ tranh vẽ, sự kết hợp đồng điệu làm chúng tôi cảm giác như chính mình đang ở trong cuộc chiến, cùng hồi hộp, nín thở theo dõi cuộc chiến , với hình ảnh các lính Nga mũ xanh, lính Pháp mũ đỏ trong những bộ quân phục gần giống nhau, ngôi làng Borodino bốc cháy trong khung cảnh giáp lá cà giữa quân Nga-Pháp. Tôi gần như nín thở khi nhìn thấy vị tướng Pyotr Bagration (1765 - 1812) , một vị tướng nga gốc Gruzia mà tôi vô cùng ngưỡng mộ khi đọc “Chiến tranh và hòa bình” của đại văn hào Lev Tonstoi, một vị tướng mà chính Napoleon đã phải thốt lên rằng : “ Nước Nga không có tướng giỏi, ngoại trừ Bagration mà thôi”. Tuy nhiên, chiến tranh vẫn là chiến tranh, Bagration đã ngã xuống trận địa Borodino ngày 24/9/1812 .

Nước Nga đã mất Bagration, nhưng nước Nga vẫn còn vị nguyên soái Mikhain Illariônôvích Cutudốp (1745-1813). Điều đau đớn nhất là trước khi qua đời, Bagration vẫn chỉ huy cuộc chiến, và chính sách vườn không nhà trống rút quân khỏi Mosva của Cutudop đã làm ông sửng sốt, khiến cái chết đến với ông nhanh hơn....

Tôi cảm nhận trận chiến trong bức tranh không hề nói lên bên nào chiến thắng, những người lính đều xả thân mình vì đất nước của họ (thực ra ở thời kỳ chế độ quân chủ của Nga, và thời kỳ Đế quốc của Pháp, giới quí tộc nắm hết mọi quyền lợi. Chỉ có quí tộc mới được làm chỉ huy. Những người lính quèn - những nông nô chỉ biết chiến đấu cho những tham vọng vô hạn của những ông chủ của họ), dù Pháp hay Nga, hay quân đồng minh trong hỗn độn của những cuộc giáp lá cà như vậy chỉ gợi lên trong tâm hồn chúng tôi một nỗi kinh hoàng về sự khốc liệt tàn bạo và vô nghĩa của chiến tranh. ..






Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

Những cảm xúc về hoa Tử đinh hương....



Lang thang dọc những con đường thơm ngát mùi hoa tử đinh hương (siren) với hai màu trắng và tím, tím đến nao lòng , và trắng thật mong manh..., chúng tôi cảm giác mình hạnh phúc và may mắn biết bao. Từng cặp đôi nam nữ thanh lịch cầm tay nhau rảo bước , ngước lên bầu trời cao, miệng cười rạng rỡ làm chúng tôi háo hức nép vào hoa để cùng cảm nhận vị ngọt tình yêu thiên nhiên tuyệt vời như thế nào...

Siren đã trở thành một phần trong trong đời sống của người dân Nga, là niềmtự hào mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân nơi đây. Siren đã đi vào thơ ca, nhạc họa như biểu tượng của mùa xuân, của tình yêu, niềm hy vọng với những cảm xúc trong sáng tinh khiết từ nơi sâu thẳm nhất của con người.
“...Trong đời tôi hạnh phúc
Chỉ có một mà thôi
Trong tử đinh hương ấy;
Trên những cành xanh tươi,
Giữa đám hoa thơm ngát
Hạnh phúc nghèo của tôi…”

Những vần thơ của Ekaterina Andreyena Beketova về Siren mộc mạc làm sao, đơn giản làm sao, nhưng cũng trong sáng làm sao!

Từ nhỏ chúng tôi đã ảnh hưởng nhiều nét văn hóa Nga, sách Nga, nhạc Nga, hội họa Nga....Bản thân tôi cũng đã được các bạn người Nga âm thầm giúp đỡ trong những ngày gian khố nhất cuộc đời, nên mọi vật xung quanh tôi sáng lung linh, đẹp kỳ diệu, phảng phất những giai điệu âm thanh, mùi thơm dìu dịu làm chúng tôi cứ ngất ngây trong niềm vui bất tân...

Những cánh hoa tử đinh hương tuy đã cuối mùa nhưng vẫn tuyệt đẹp, và, tôi bỗng liên tưởng tới bức tranh Siren của họa sĩ người Nga gốc Ba lan Михаи́л Алекса́ндрович Вру́бель (Mikhail Aleksandrovich Vrubel 1856 – 1910) nổi tiếng với trường phái Tượng trưng (Symbolist) và Tân nghệ thuật (Art Nouveau). Bức tranh Lilac (Tử đinh hương, siren) ông sáng tác năm 1900, gọi là Nocturne Siren , vì họa sĩ đã vẽ nó vào ban đêm, một cảm hứng thật cá tính, những cánh hoa huyền ảo kỳ lạ, chan chứa tình yêu cứ len lỏi, thấm vào tim ,vào máu. Về hội họa, Nocturne là nói về cảnh ban đêm, nhưng về âm nhạc, thì Nocturne lại là bản dạ khúc ban đêm...trong đầu tôi bỗng dưng lại văng vẳng những giai điệu Nocturnes dịu êm, nồng cháy của F Chopin. Rồi bừng tỉnh , chúng tôi lại trở về với những cánh hoa đẹp mong manh mà say đắm lòng người...


Nocturne Siren 1900 - Vrubel




Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Thành phố cảng biển Кроншта́дт




Thành phố cảng biển Кроншта́дт (Kronstadt) nằm cách thành phố Saint Petertburg khoảng 30km về phía tây, gần vịnh Phần lan, mà chúng tôi vẫn gọi là thị trấn nhỏ bên bờ biển Ban tích...
Nơi đây rất gần Cung điện Mùa hè – một kiệt tác về nghệ thuật được thiết kế làm nơi cư trú đầu tiên của Peter I, và được xây dựng trong 4 năm. ...Tôi sẽ viết về Cung điện này trong bài viết sau. Ở đây, tôi chỉ viết về cảm nhận vẻ đẹp nên thơ, thật thanh bình, yên ả với những hàng cây phong , cây lippa dài bất tận , với những nẻo đường sạch sẽ, vắng vẻ, với nhữn g con người bình dị, và hòa mình với bầy chim hải âu, bồ câu cứ mặc sức thả cánh, hồn nhiên, vô tư bay lượn trong các cánh rừng, các khu dân cư...hình như cuộc sống của chúng đã tạo nên vẻ đặc sắc, thấm đẫm tình người với thiên nhiên, hoa lá, cây cỏ, dường như tất cả cùng chung một nhịp đập, đó chính là điều đã tạo nên chất con người Nga: vô cùng bình dị, nhưng cũng vô cùng dũng mãnh trong công cuộc bảo vệ giữ gìn đất nước của họ qua bao cuộc chiến tranh.


C
húng tôi ghé một khu dân cư với những khu nhà không cao lắm, đã cũ rồi, đâu đó vương vết rong rêu...một cậu bé người Nga xinh xắn lặng lẽ vứt bánh qui cho chim hải âu và bồ câu ăn ở cái sân nhỏ - cửa ra vào khu dân cư. Đàn chim sà xuống ăn bánh, nhìn thấy chúng tôi vù bay đi, rồi lại ngập ngừng hạ cánh xuống, nghe ngóng, rồi mổ lia lịa những mẩu bánh vụn...Không thể kiềm chế xúc động, chúng tôi đã nói với cậu bé cùng chụp hình để kỷ niệm. Cậu bé mỉm cười- cái cười đậm chất Nga, tuyệt vời làm sao, không hề do dự, e thẹn, ngại ngùng...Nhữn g chú hải âu , bồ câu vẫn sà xuống ăn bánh, những hàng cây xanh ngát vẫn tỏa hương thơm dịu ngọt, và chúng tôi, những lữ khách phương xa vẫn ngất ngây , say đắm với vẻ đẹp thiên nhiên và con người của đất nước thân yêu và bí ẩn này....






Cung điện bằng gỗ tại Kolomenskoye




Cung điện bằng gỗ tại Kolomenskoye ở Moscva được thiết kế cho gia đình Hoàng gia Alexis đệ nhất. Tuy cung điện hiện tại đã được phục chế lại hoàn toàn, nhưng vẫn mang đậm bản sắc Nga và với vẻ đẹp rực rỡ, huyền bí vốn có của nó. Cung điện này được hai người thợ mộc thiết kế và xây dựng năm 1667. Đến năm 1767 thì nữ hoàng Ecarerina đệ nhất ra lệnh phá hủy.

Cung điện gỗ tại khu Kolomenskoye là một trong những công trình có khối hình mang hơi thở kỳ diệu, huyền ảo, với một lối kiến trúc đặc sắc , khiến chúng tôi vừa bước tới đã bị cuốn hút, như bước vào xứ sở thần tiên trong những câu chuyện cổ tích không bao giờ có hồi kết...


Bước chân ngập ngừng , ngắm cung điện, và phong cảnh, chúng tôi như muốn thả hết tâm hồn vào cây cỏ, vào những khung cửa sổ bí ẩn, lặng lẽ như muốn thử sức chúng tôi chinh phục thế giới huyền ảo của nó...Và , chúng tôi ngẩng đầu , ngắm nhìn toàn bộ phong cảnh, với những cây tần bì, bạch dương, cây phong....xen kẽ hàng ngàn bông hoa Bồ công anh vàng rực, rồi trắng nhạt nhòa sau khi đã chín, từng chiếc lông tơ rời bay đi, thật mong manh nhưng tràn đầy sức mạnh của niềm tin, mơ ước, khát khao, hy vọng.

(Kolomenskoye : Là tài sản của hoàng gia Nga trước đây, nằm cách Moskva vài dặm về phía đông nam với diện tích 390 ha, trên con đường cổ dẫn tới thị trấn Kolomna )



Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Four pieces (Klavierstücke) for piano, Op.119 của Johannes Brahms

Bốn bản nhạc dành cho Piano (tiếng Đức: ' Klavierstücke ') Op . 119, Johannes Brahms sáng tác vào năm 1893, được trình diễn tại London vào tháng Giêng năm 1894.
Mỗi một bản nhạc trong ba phần đầu tiên được gọi là khúc nhạc ngắn , và một Rhapsody (khúc nhạc vui) cuối cùng . Bản Intermezzo (khúc nhạc ngắn trung gian) đầu tiên Brahms viết trong tháng 5/1893, 3 bản cuối cùng và bản Rhapsody giọng Mi giáng trưởng ông viết trong tháng 6/1893.
Bốn bản (phần) nhạc đó là:1.Intermezzo in B minor (khúc nhạc ngắn trung gian cung Si thứ) - phần nhạc này mình thích nhất vì chất mơ mộng, cứ nửa hư nửa thực, buồn vui lẫn lộn, rất khó tả...
Brahms vốn rất thân với gia đình nhạc sĩ Shumann, đặc biệt là tình bạn trong sáng, vô cùng cao đẹp giữa Brahms và Clara Shumann – người vợ yêu của nhạc sĩ Shumann. Phần này Brahms đã gửi cho clara xem trước. Trong phần này giai điệu được chuyển gam Bm(si thứ) sang Em(Mi thứ), đoạn giữa lại về Dm(Rê thứ).
2. Intermezzo in E minor(khúc nhạc ngắn trung gian cung Mi thứ), ở giữa bản nhạc chuyển sang E trưởng
3. Intermezzo in C major (khúc nhạc ngắn trung gian cung Đô trưởng), gồm 12 ô nhịp
4. Rhapsody in E-flat major( Điệu Rhapsody cung Mi giáng trưởng)


Richter thực hiện toàn bộ 4 bản

 Richter thực hiện phần 1/2


Richter trình bày 3/4

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Без тебя với giọng ca Ani Lorak

Cùng nghe Ani Lorak cô ca sĩ người Ucraina sinh năm 1978 hát bài hát mới của năm 2015 "Không có anh" do Ирина Дубцова (Irina Dubtsova)- nữ nhạc sĩ , ca sĩ trẻ tuổi sinh năm 1982 người Nga sáng tác cả nhạc và lời...
Tuy trẻ trung vậy nhưng nữ nhạc sĩ Irina Dubtsova  đã có khá nhiều tác phẩm hay và sáng tạo từ 2008 cho đến nay...
Mình đã tải vào blog này một số bài hát do nữ ca sĩ Ani Lorak trình bày như «Спроси” (Anh hỏi đi), Миллион алых роз ( Triệu bông hồng đỏ thắm)...mình vốn thích giọng cô ca sĩ này
nào cùng nghe nhé


Стала ветром прошлого зала.
Ни зла, ни боли.
Я смогла, сердце по осколочкам собрать.
Чтоб тебе отдать, навсегда.
Полночь гасит в наших окнах свет.
Ты спишь, а я, прошу рассвет.
Задержать ещё на пол часа.
Чтобы не мешать, тебе.

Припев:
Я хочу, чтобы в тон твоим глазам.
Цвета ночи вдруг стали небеса.
Среди бела дня!
Это счастье меня лишает сил.
Не хочу, чтобы ты меня любил.
Так, как я тебя!
Так, как я тебя!

Всё вернулось на круги своя.
Опять жива моя душа.
Как же раньше я могла дышать, без тебя?
Без тебя?

Припев
Я хочу, чтобы в тон твоим глазам.
Цвета ночи вдруг стали небеса.
Среди бела дня!
Это счастье меня лишает сил.
Не хочу, чтобы ты меня любил.
Так, как я тебя!
Так, как я тебя!

Không có anh
(DiệuTrinh chuyển ngữ)
Em thành ngọn gió lang thang trong căn phòng rộng lớn.
Chẳng đau đớn, cũng chẳng làm hại ai.
Em đã có thể gom hết những mảnh tim vỡ vụn
Để trao tặng cho anh, mãi mãi.

Màn đêm che hết ánh sáng cửa sổ chúng ta.
Anh ngủ, và em mong chờ bình minh tới
Và cứ như vậy trong nửa giờ.
Em không làm anh thức giấc.
ĐK
Em muốn mình hòa vào đôi mắt anh.
Sắc màu đêm tối hóa thành thiên đường.
Giữa thanh thiên bạch nhật!
Hạnh phúc này đã làm em mềm yếu.
Em không muốn anh yêu em.
Như em đã yêu anh!
Như em đã yêu anh!

Mọi thứ đã trở lại bình thường.
Linh hồn em lại hồi sinh.
Làm sao em có thể sống nổi khi không có anh khi đó
Nếu không có anh?
ĐK
Em muốn mình hòa vào đôi mắt anh.
Sắc màu đêm tối hóa thành thiên đường.
Giữa thanh thiên bạch nhật!
Hạnh phúc này đã làm em mềm yếu.
Em không muốn anh yêu em.
Như em đã yêu anh!
Như em đã yêu anh!





Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Waltz op.64 No.2 của F. Chopin

Waltz số 2, ấn phẩm 64 cung Đô thăng thứ  ( Waltz Op. 64, số 2) được F. Chopin sáng tác năm 1847, và Chopin dành riêng Waltz này đề tặng Madame Nathaniel de Rothschild .
Mình còn nhớ ngày cô em họ chuẩn bị thi tốt nghiệp chương trình  Nhạc viện , bản nhạc này là bản bắt buộc em mình phải thực hành trong bài thi. Hồi đó mình đang ở VT- một thành phố biển với công việc bận rộn cùng chồng và con nhỏ. Mỗi lần về SG công tác mình lại tranh thủ về nhà cô, và nghe em họ tập đàn...
Bản nhạc này mình quá yêu thích , đến nỗi những khi mình buồn, thất vọng, hụt hẵng, và có cảm giác chơi vơi trong tư tưởng , tình cảm, mình lại nghe, và bao nỗi ưu phiền tự nhiên tan vào không gian tĩnh lặng bao quanh mình...mình như được tiếp thêm sức mạnh để đứng dậy và bước đi tiếp. 
Nhiều người chơi bản nhạc này, nhưng mình thích Arthur Rubinstein (1887-19820 - nghệ sỹ piano người Mỹ gốc Ba Lan thể hiện  , Rubinstein được coi là người chơi nhạc F.Chopin vĩ đại nhất thế kỷ 20


Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Сутки с тобою (Một ngày bên anh)

Верони́ка Миха́йловна Тушно́ва (Veronica M. Tushnova; 1911 - 1965) - nhà thơ Liên xô nổi tiếng với những bài thơ về tình yêu, bà đã nói về tình yêu với tất cả tâm hồn, thơ của bà rất nổi tiếng và được mọi người yêu mến, thấm đượm những lời khuyên nhủ, khuyến khích mối quan hệ nhân ái giữa con người với con người
Mình đã có bài viết về bài thơ Не отрекаются любя “ (Đừng từ chối tình yêu) của bà.

Hôm nay, mình tải về bài thơ Сутки с тобою, ( Một ngày bên anh) với những dòng nước mắt dường như vẫn còn ướt đẫm từng vần thơ, từng nét chữ.

Theo mình tìm hiểu, thì bài thơ này bà làm trong thời kỳ bà lấy người chồng thứ 2 là Alexander Yashin, người này đã có vợ con, nên không thể rời bỏ gia đình ....Họ chỉ đến với nhau thoáng chốc, rồi lại phải chia tay nhau trong bí mật, buồn tủi và vô vọng , khao khát và cô đơn. Lời thơ của bà đau đớn , nhưng hạnh phúc, bởi vì chúng được quyện chặt vào nhau, làm con người ta vừa cảm thấy được bay bổng vô tận trong tình yêu , vừa như bị dao cứa sâu vào trái tim, vô cùng đau đớn....

Сутки с тобою...
Сутки с тобою,
месяцы — врозь...
Спервоначалу
так повелось.
Уходишь, приходишь,
и снова,
и снова прощаешься,
то в слезы, то в сны
превращаешься,
и снова я жду,
как во веки веков
из плаванья женщины ждут
моряков.
Жду утром, и в полдень,
и ночью сырой,
и вдруг ты однажды
стучишься: — Открой!—
Тепла, тяжела
дорогая рука...
...А годы летят,
как летят облака,
летят-пролетают,
как листья, как снег...
Мы вместе — навек.
В разлуке — навек.

Một ngày bên amh,
Bao tháng ròng xa cách ...
Ngay thủa ban đầu
Đã vậy rồi anh
Anh đi , rồi anh đến
và lại thêm một lần tạm biệt
trong nước mắt, trong giấc mơ
Quay cuồng
và một lần nữa em lại chờ đợi anh
giống như những người đàn bà đang bơi
mãi mãi chờ đợi
các chàng lính thủy xuất hiện
Em đợi hết buổi sáng rồi buổi trưa,
Ròi một đêm ẩm ướt,
Bỗng dưng anh xuât hiện
Anh gõ cửa và kêu: Mở cửa đi em!
Và cánh tay nồng nhiệt, nặng trĩu..
... Rồi năm tháng qua đi ,
như mây bay,
bay chấp chới , chao lượn
như lá, tuyết ...
Chúng mình bên nhau - mãi mãi.
Và cũng ly biệt - mãi mãi.

Вероника Тушнова

(Diệu Trinh chuyển ngữ)

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Xanh ngát Nha Trang...


Rạng rỡ Nha trang
Trong nắng vàng đầu hạ
Sóng nước xôn xao,
Ngơ ngác bóng hoàng hôn

Mây chiều lảng bảng....
Gió cười hay thổn thức
Để biển cứ  mãi xanh
Xanh ngát hồn thơ
Xanh ngát trái tim em?



Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Hungarian Dance số 5 của Johannes Brahms

Johannes Brahms (1833 - 1897) là một nhà soạn nhạc Đức và nghệ sĩ dương cầm người Đức , tuy sinh ra ở Hamburg nhưng Brahms chủ yếu sống và sáng tác ở Vienna , Áo. Người anh họ của mình - một nghệ sĩ và thày dạy piano đã có lần nói về nhóm ba ”Bs” của âm nhạc , anh ấy bảo giới nghệ sĩ , giới học piano chuyên nghiệp đều biết tới cụm từ này dành cho  Johann Sebastian Bach , Ludwig van Beethoven  và Johannes Brahms , cụm từ 3 Bs ở đây được hiểu  là ba nhạc sĩ lừng danh có tên cùng vần  B  chiếm lĩnh đỉnh cao âm nhạc...
Mình được nghe Brahms từ nhỏ qua bản nhạc Hungarian Dance số 5  với tiếng đàn phong cầm của anh trai. Mình thuộc lòng giai điệu bản nhạc này với chất lãng mạn, bay bổng, có phần lãng tử, phiêu du như tên gọi của nó : Vũ điệu Hungari
Một buổi tối, nhân đọc trên FB  của cô bạn giới thiệu một bản nhạc của Giovanni Maradi với tên Sunrise, Sunset...Mình nghe và sững sờ, vì thấy giống giai điệu bản nhạc này của Brahms, tác giả của nó đã mượn giai điệu chủ đạo của Hungarian Dance rồi phát triển thành bản nhạc của mình.....và mình đã nói cho cô bạn về cảm nhận của mình. Hóa ra đạo nhạc, đạo thơ, đạo văn đã từng xảy ra mọi nơi, mọi lúc trên toàn thế giới này...
Bỗng nhiên lòng mình dịu lại. Phải, nỗi buồn của mình nhẹ nhàng trôi theo dòng thời gian, hòa vào những dòng âm thanh dịu ngọt . Âm nhạc là liều thuốc tuyệt vời nhất của mình lúc này...
cùng nghe Hungarian Dance số 5- cung Sol thứ của J. Brahms nào

 

 Còn bây giờ cùng nghe  giai điệu bị đạo và phát triển thành giai điệu mới nào:

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

Bài hát "Không dành cho anh" với giọng ca Pelagia S. Khanova

Pelagia S. Khanova – nữ ca sĩ người Nga sinh năm 1986 tại Novosibirsk, với nụ cười tươi, gương mặt khả ái và giọng ca ngọt ngào, mạnh, và đậm chất dân ca Nga... ...Bài hát “Không dành cho anh” là dân ca kozak đã có từ lâu đời và được nhiều người yêu thích, được nhiều ca sĩ thể hiện.

Mình đã nghe bài hát này với giọng ca sĩ khác, nhưng khi nghe Pelagia, tự nhiên mình hình dung một phần khung cảnh trong tác phẩm “Sông Đông êm đềm” vĩ đại  của  nhà văn Nga Mikhail Aleksandrovich Sholokhov. Các số phận của chàng Gregori, nàng Aksinia, Natalia trong cuốn tiểu thuyết cứ vảng vất đâu đây qua giai điệu bài hát...



Не для тебя придет весна
Не для тебя Дон разольется
И сердце девичье забьется
С восторгом чувств не для тебя

Не для тебя цветут сады,
В долине роща расцветает -
Там соловей весну встречает
Он будет петь не для тебя.

Не для тебя журчат ручьи,
Бегут алмазными струями.
Там дева с черными бровями -
Она растет не для тебя.

Не для тебя придет пасха,
За стол родня вся соберется,
Вино по рюмочкам польется -
Такая жизнь не для тебя.

А для тебя кусок свинца
Он в тело белое вопьется,
И слезы горькие прольются -
Такая жизнь, брат, ждет тебя.

И слезы горькие прольются -
Такая жизнь, брат, ждет тебя

(Diệu Trinh chuyển ngữ)
Mùa xuân đến sẽ chẳng dành cho anh,
Sông Đông đầy ắp nước kia cũng không dành cho anh
Và trái tim cô gái thổn thức
cảm xúc dâng trào cũng chẳng dành cho anh.​

Những vườn hoa đua nở chẳng cho anh
Một rừng hoa khoe sắc trong thung lũng
Ở nơi ấy họa mi đang chờ đón mùa xuân
Họa mi hót cũng không phải cho anh.​

Những dòng suối róc rách cũng chẳng dành cho anh,
Dòng suối chảy xiết tựa những dải lấp lánh.
Nói đó có người con gái với lông mày đen
Nàng tỏa sáng không phải dành cho anh.​

Lễ Phục sinh cũng không phải cho anh,
Những người thân cùng xum vầy bên bàn tiệc,
Rượu đong đầy theo từng chiếc ly nhỏ
Cuộc sống này cũng chẳng dành cho anh.​

Chỉ có một mẩu chì nhỏ để cho anh
đâm xuyên vào cơ thể say mềm trắng nhợt
Và những giọt nước mắt đắng cay tuôn chảy
Cuộc sống như vậy đang chờ đợi anh.​

Và những giọt nước mắt đắng cay chan chứa
Đó là cuộc sống đang chờ đợi anh.​







Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

Andante Favori cung Fa trưởng (F Major) của Ludwig van Beethoven

Ludwig van Beethoven soạn Andante Favori cung Fa trưởng (F Major) vào khoảng giữa 1803 và 1804, và xuất bản vào năm 1805, dành cho độc tấu piano, và được đặt tên là WoO57. Ban đầu ông dự định làm phần thứ hai trong ba phần của bản Sonata "Waldstein ", Opus 53, song có lẽ do bản sonata này quá dài, nên Beethoven đã quyết định để nó đôc lập. Theo Alexander Wheelock Thayer (1817 - 1897) thì do sự phổ biến của Andante Favori , tiêu đề do Carl Czerny (1791-1857) - học trò của Beethoven đặt , nên Beethoven đã đặt tên cho tác phẩm này là Andante Favori , nghĩa là “ưa chuộng sự thong thả, thư thái” . Bản nhạc Andante Favori  đã được các nhà làm phim truyền hình Anh quốc năm 1995 (BBC 1995) sử dụng trong bộ phim truyền hình 6 tập “Pride and Prejudice” (Kiêu hãnh và định kiến) dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Jane Austen (1775 -1817), nữ văn sĩ người Anh nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết lãng mạn sâu sắc, tinh tế. Mình vẫn nhớ hình ảnh trong phim, đoạn Elizabeth Benet và Fizwilliam Darcy (hai nhân vật chính ) thầm lén nhìn nhau trong khi cô em Georgiana của Darcy chậm rãi chơi bản Andante Favori trên dương cầm, bản nhạc đã được đưa vào hoàn toàn tự nhiên, sinh động. Bản Andante Favori cung Fa trưởng có độ dài khoảng 9 phút. Mình thích phiên bản bộ phim "Kiêu hãnh và định kiến" năm 1995 với phần diễn xuất của Jennifer Anne Ehle (Nữ diễn viên người Mỹ - Anh) trong vai Elizabeth Bennet, và giai điệu bản Andante cứ luôn văng vẳng trong đầu... 

 Cùng nghe phần trình bày của nghệ sĩ piano Xô viết lừng danh Sviatoslav Teofilovich Richter (1915-1997)

 

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Johannes Brahms với Serenade No.1, Op.11 in D - Major

Johannes Brahms (1833-1897) là  nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano, chỉ huy dàn nhạc người Đức. Là một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện, ông thực hiện các buổi diễn ra mắt nhiều tác phẩm của chính mình, ông cũng đã từng làm việc với một số nghệ sĩ hàng đầu vào thời bấy giờ, kể cả với nghệ sĩ dương cầm Crala Shumann (người vợ yêu của nhà soạn nhạc Robert Shumann) và nghệ sĩ violin Joseph Joachim.  Các sáng tác của Brahms bao hàm cả những chất liệu truyền thống lẫn sáng tạo. Âm nhạc của ông có cấu trúc và kỹ thuật bắt nguồn từ các bậc thầy Baroque (tiền cổ điển) và  cổ điển. Âm nhạc của Johannes Brahms là  sự kết hợp giữa cái đẹp hình thức hoàn hảo và sự bình  dị sâu sắc của tâm hồn. Ông là người tiếp nối các truyền thống hiện thực cổ điển và “làm giàu” chúng bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của Johannes Brahms vừa thấm đậm chất triết học trữ tình đặc trưng của J.S.Bach vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và mãnh liệt theo tinh thần L.V.Beethoven, nhưng cũng thấm đượm lo âu về số phận con người…
Bản serenade No.1, Op.11 cung Rê trưởng (in D Major) ông sáng tác từ năm 1850 và hoàn thành vào năm 1857. Vào thời điểm đó, Brahms cũng đã bắt đầu sáng tác bản piano concerto đầu tiên.
Bản Serenade này gồm sáu phần và kéo dài khoảng gần bốn mươi phút. 6 phần đó là:
1. Allegro molto (D major) – rất nhanh (Rê trưởng)
2. Scherzo. Allegro non troppo (D minor) khúc nhạc vui. Không nhanh quá (Rê trưởng)– Trio. Poco più moto (B- flat major) nhanh hơn một chút
3. Adagio non troppo (B-flat major) – thong thả (Si giáng trưởng)
4. Menuetto I (G major) – Menuetto II (G minor) – điệu nhảy số 1 (Sol trưởng)  - điệu nhảy số  2 (Sol thứ)

5.Scherzo. Allegro (D major) – Trio – khúc nhạc vui. Nhanh Rê trưởng)
6.Rondo. Allegro (D major) - Rondo. Nhanh (Rê trưởng)


 Nghe  Dàn nhạc  Capella Agustina (do Andreas Spering  thành lập năm 1966)  
Chỉ huy dàn nhạc:  Andreas Spering trình bày cả 6 phần bản Serenade số 1, Op.11

Phần I của bản Serenade : Allegro molto cung Rê trưởng

Phần II :  Scherzo. Allegro non troppo (D minor)

Phần III :  Adagio non troppo (B-flat major)

Phần 6: Rondo

Còn đây là phần 4- hai điệu nhảy số 1 và 2 cung Sol trưởng và thứ, mình thích phần này

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

Nghe lại bài hát Yesterday

Bài hát Yesterday mặc dù được ký tên “Lenon/McCartney” nhưng thật ra do Paul McCartney (1942) – một thành viên của ban nhạc huyền thoại Baetles gồm John Lennon, George Harrison, và Ringo Starr, sáng tác. Theo những gì mà Paul kể lại thì bản nhạc này đã nảy ra trong đầu ông vào buổi đêm tại nhà riêng và ngay tức khắc Paul đã bật dậy và đánh lại bản nhạc trên cây đàn piano của mình để khỏi quên. Ngày 14/6/1965, Paul McCartney đã bước vào Abbey Road Studio (London) và sau đó nhanh chóng thu âm một bài hát đã vang lên trong đầu của ông suốt mấy tháng qua
Không giống như các bản nhạc Pop cùng thời, giai điệu của bản nhạc nổi tiếng này bắt đầu với hợp âm F-major (Pha trưởng) rồi sau đó là E-minor (Mi thứ), A-major (La trưởng) rồi cuối cùng là D-minor (Rê thứ). Bài hát ban đầu cũng được đặt tên là “Scrambled eggs” với lời rất buồn cười “Scrambled eggs / Oh baby how I love your legs.” Sau khi đã phối lời lại, không biết rằng cả ban nhạc có cùng tham gia hay không nhưng bản thu cuối cùng là bản thu solo của Paul McCartney. Tuy vậy, sau đó thì Yesterday đã được cả ban nhạc Beatles chơi trong một buổi công diễn năm 1966.
Bài hát Yesterday từ sau khi ra đời đã trở thành bản nhạc được phối lại (covered song) nhiều nhất trong lịch sử nhạc Pop với trên dưới 2000 bản phối khác nhau và có rất nhiều ca sỹ/nhóm nhạc nổi tiếng đã hát lại bài hát này.
Cùng nghe Galya chơi bản này ở cung Dm, theo bản nhạc mình tải dưới đây

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

Я спроси́л у о́сени...(Tôi hỏi cây tần bì)

Bài hát "Tôi hỏi cây tần bì" là bài hát tôi đã biết và khá yêu thích từ những ngày còn là sinh viên. Hồi đó chúng tôi hay sưu tầm và cùng nhau hát những bài hát nga yêu thích như: Не повторяется такое никогда, Песня крокодила Гены, Улыбка....Đến giờ tôi vẫn còn thuộc lời những bài hát này.
Vladimir Kirshon (1902 – 1938), là nhà văn, nhà soạn kịch. Ông sáng tác bài thơ Tôi hỏi cây tần bì năm 1935 trong vở hài kịch “sinh nhật”, nhạc sĩ Tikhon Khrennikov đã viết nhạc cho bài thơ này. Cuộc đời ông bất hạnh, chết trong tủi nhục vì bị buộc tội và xử bắn năm 1938, nhưng bù lại , bài thơ Tôi hỏi cây tần bì may mắn hơn tác giả của nó. Năm 1975 khi đạo diễn diễn Eldar Ryazanov đưa vào bộ phim “ Số phận trớ trêu” thì bài thơ đã trở nên bất tử.
Trong bộ phim “số phận trớ trêu” nhạc sĩ Michael Tariverdiev đã soạn nhạc theo những vần thơ của V.Krishon, và từ đó, bài hát đã trở nên nổi tiếng và đi vào lòng khán giả nước Nga và lan truyền sang Việt nam, hồi đó lũ sinh viên chúng tôi cứ đến giờ giải lao là lại túm năm tụm ba lẩm bẩm lời ca...rồi tới câu : "Người yêu bạn ngày ấy, Giờ đã thành vợ tôi" thì im bặt, rồi người thì cười, người thì suy tư, một thời sinh viên đáng nhớ...
Cùng nghe ca sĩ Nikitin Sergey trình bày bài hát này


Стихи: Владимир Киршон
Музыка: Микаэл Таривердиев
Я спроси́л у я́сеня: «Где моя любимая?»
Я́сень не отве́тил мне, кача́я голово́й.
Я спроси́л у то́поля: «Где моя любимая?»
То́поль заброса́л меня осе́ннею листво́й.
Я спроси́л у о́сени: «Где моя любимая?»
О́сень мне отве́тила проливны́м дождём.
У дождя ́ я спра́шивал: «Где моя любимая?»
Долго до́ждик слёзы лил за моим окно́м.
Я спроси́л у ме́сяца: «Где моя любимая?»
Месяц скрылся в о́блаке, не отве́тил мне.
Я спроси́л у о́блака: «Где моя любимая?»
О́блако расста́яло в небе́сной тишине.
«Друг ты мой еди́нственный, где моя любимая.
Ты скажи
́ где скрылася. Знаешь, где она?»
Друг отве́тил пре́данно, друг отве́тил и́скренне:
«Была тебе любимая, была тебе любимая,
была тебе любимая, а стала мне жена».

Я спросил у ясеня 
Я спросил у тополя 
Я спросил у осени...

Tôi hỏi cây tần bì
Lời thơ: Vladimir Kirshon
Nhạc: Michael Tariverdiev
( Diệu Trinh chuyển ngữ)
Tôi hỏi cây tần bì, "người yêu tôi ở đâu"
Cây lắc đầu không buồn lên tiếng
Tôi hỏi cây phong, "người yêu của tôi đâu"
Cây  xối xả trút lá thu vàng úa

Tôi hỏi mùa thu , "người yêu của tôi đâu"
Thu trả lời bằng cơn mưa không ngớt
Tôi hỏi mưa , người yêu của tôi đâu
Mưa tí tách lệ sầu bên khung cửa sổ

Tôi hỏi vầng trăng non, "người tôi yêu ở đâu"
Trăng ẩn mình trong bóng mây  lặng lẽ
Tôi hỏi mây, người tôi yêu ở đâu
Đám mây  tan giữa  trời cao xanh thẳm

Bạn thân của tôi ơi, "người tôi yêu ở đâu"
Nói tôi nghe, nàng đang ở nơi đâu
Người bạn thân thiết,
Bạn trung thành trả lời
"Người yêu bạn ngày ấy,
Giờ đã thành vợ tôi"

Gặp tần bì tôi hỏi
Gặp cây  phong tôi hỏi
Tôi hỏi cả mùa thu....