Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Piano concerto số 20 giọng Rê thứ (D Minor) của Wolfgang Amadeus Mozart (27/1/1756 - 5/12/1791)

Piano concerto số 20 giọng Rê thứ (D Minor) - (K.466) – một trong 2 bản piano concerto duy nhất Mozart viết ở giọng thứ - được hoàn thành và trình diễn lần đầu vào ngày 10 tháng 2 năm 1785 tại Viena Casino do chính Mozart độc tấu. Khi ấy Mozart đang trong thời kỳ đỉnh cao, nổi tiếng với tư cách vừa là nhà soạn nhạc vừa là nghệ sĩ biểu diễn.

Giọng Rê thứ ít khi xuất hiện trong các tác phẩm của Mozart, nhưng lại vô cùng quan trọng. Về sau ông dùng giọng này cho cảnh đày Don Giovanni xuống địa ngục trong vở opera cùng tên và cho cả bản Requiem sầu thảm.

Chương một,  còn gọi là “ Allegro” thoáng hiện lên những nét nhạc u uẩn đầy kịch tích mà về sau Mozart thường sử dụng cho những tác phẩm cuối đời của mình, đoạn khởi đầu được áp dụng kỹ thuật đảo phách ắt hẳn đã khiến khán giả thời đó phải ngỡ ngàng. Phần trình diễn của dàn nhạc và piano kết hợp những nét nhạc kỳ bí với sự bùng nổ mãnh liệt, theo đó thể hiện phần lớn những chất liệu giai điệu được sử dụng cho toàn bộ chương nhạc.

Chương hai - viết ở giọng Si giáng trưởng (B Flat Major), còn gọi là “Romanza” - một trong những khúc nhạc dịu êm và nên thơ nhất của Mozart, giữa chừng ngắt đoạn bởi khúc nhạc dữ dội ở giọng thứ.

Chương cuối là khúc rondo, còn gọi là “ Allegro assai” bão táp một lần nữa trở lại, tuy vậy cũng đượm vẻ nên thơ hơn so với chương một. Những hiệu ứng được sử dụng xen kẽ giúp giảm bớt sự gay gắt của chủ đề chính vốn quá bốc lửa và góc cạnh, Sau đoạn cadenza (một đoạn độc tấu hào nhoáng ở cuối phần trình diễn - thuật ngữ tiếng Ý trong âm nhạc) , tác phẩm lên tới cao trào và kết thúc ở giọng Rê trưởng.

Mozart có khả năng thể hiện sự vĩ đại của mình qua mọi tác phẩm ông viết, dù là giao hưởng, opera, mass hay piano sonata. Và chẳng hề sai nhận định rằng, toàn bộ 27 piano concerto của ông là những tác phẩm được hưởng trọn vẹn sự thiên tài ấy.
NET(edited)


Nữ nghệ sĩ dương cầm người Argentina - Martha Argerich  trình bày phần piano cùng dàn nhạc  di Padova e del Veneto - dàn nhạc nổi tiếng của Ý, thành lập năm 1966 do Alexandre Rabinovitch làm nhạc trưởng.   
Martha Argerich sinh ngày 5/6/1941 tại Buenos  Aires, Argentina, đã sớm phát triển niềm say mê đặc biệt với âm nhạc khi chỉ mới 2 tuổi rưỡi. Khi lên 8 tuổi, Argerich xuất hiện lần đầu trước khán giả Buenos Aires với piano concerto số 20 giọng Rê thứ, K. 466 của Wolfgang Amadeus Mozart và piano concerto số 1 giọng Đô trưởng, Op. 15 của Ludwig van Beethoven. 
Bà cũng là người tham gia làm giám khảo cho cuộc thi piano quốc tế lần thứ 10 mang tên Chopin tháng 10 năm 1980 tại Vacsava, Ba lan, mà  Đặng Thái Sơn của Việt nam đã giành chiến thắng. 

Nghe phần II- Romanza trên nhạc của tui

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

BÌNH YÊN NƠI ĐÂU

Lê Duy Đức


 Đã bao ngày không đứng trong cái gió biển lồng lộng, hứng cái nắng gay gắt cháy da hay lao vào cái sóng ầm ập…

Cái mưa tí tách trước hiên, cái cảm giác muốn vung tay nghịch ngợm giọt mưa mờ đi, như xoay ống kính trật focus.
Cái rực đỏ hoa phượng chỉ còn là vị đắng mong manh sau tách trà vội buổi sáng.
Cái hồn nhiên trong veo sao mà xa xăm, ngoi ngóp trong cái vẩn đục xô bồ.
'Bình yên một thoáng cho tim mềm. 
Bình yên ta vào đêm.'
Cái bình yên thật xa xỉ.

Cái vườn rau sau nhà, xanh xanh
Cái cây ổi đơm bông, ngan ngát
Cái võng buổi trưa mát tâm hồn
Cái nồi bánh chưng đỏ lửa, ngon lành
Cái ê a học bài, ngao ngán
Cái náo nức chờ đến giờ chơi

 Bình yên làm sao một tuổi thơ tròn trịa
Dữ dội làm sao những năm tháng bước qua tuổi đôi mươi…
'Bình yên để sóng nâng niu bờ 
Bình yên không ngờ 
Lòng ta se sẽ câu kinh bình yên.'


Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

LS Phật giáo: Đạo Phật thời Lý- Việt nam


1. Tín-ngưỡng ở Giao-châu

Trước khi các tông-giáo tràn vào, người Việt chắc đã tôn-sùng những mãnh-lực thiên-nhiên, như núi sông, sấm chớp. Những di-tích còn lại không những ở trong tập-tục của dân-gian, mà trong điển-lệ tế-tự, nay còn những vị thần, được thờ tại rất nhiều nơi, mà không ai biết rõ gốc-tích từ đâu tới. Thần Cao-sơnchắc cũng là đức-thánh Tản-viên, thần Long-thủy có lẽ gốc ở thác Bờ. Lại như các đền hay "chùa" Pháp-Vân, Pháp-Vũ, Pháp-Lôi, Pháp-Ðiện hẳn là di-tích các thần mây, mưa, sấm, chớp. 
Ðến hồi Bắc-thuộc, đạo Nho và đạo Lão được đem vào. Nhất là trong đời loạn-li sau khi Hán mất, Sĩ-Nhiếp là thái-thú ở Giao-châu, giữ một vùng yên ổn, thì nhiều nhà trí-thức Trung-hoa tụ tập ở Luy-lâu, trị-sở Giao-châu. Nhờ đó Nho-học và Ðạo-học lại càng bành-trướng. Trong hai đạo mới, đạo Lão là thích-hợp với tín-ngưỡng gốc của dân Việt, cho nên nó lan tràn chóng và hòa lẫn với những tập-tục dân-gian. Còn như Nho-giáo, tuy được dựa thế những kẻ cầm-quyền, phần đông là nho-sĩ, nhưng nó cũng chỉ giữ tính-cách thường chứ không thành một tín-ngưỡng mới. 
Sau đó, đạo Phật từ Ấn-độ mới lan đến góc đông-nam lục địa. Với tính-cách ôn-hòa, thần-bí, Phật-giáo chóng ăn sâu vào lòng tín-ngưỡng người Việt. Nó dung-hòa dễ-dàng với sự sùng-bái thường, và nó dễ đi đôi với Ðạo-giáo đến đấy từ trước.

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Nocturne op.72, No.1 cung Mi thứ (E Minor) của Frédéric Chopin

Frédéric Chopin (1810-1849) sáng tác  bản Nocturne op.72, No.1 cung Mi thứ (E Minor) vào năm 1827, khi ông mới 17 tuổi.  Năm 1855 , sau khi ông mất tác phẩm này mới được xuất bản, nên Nocturne này có số thứ tự là 19.

Sviatoslav Teofilovich Richter (1915 – 1997) đã chơi bản này rất thành công. Richter ra đời tại Ucraina, mẹ là người Nga, bố là người Đức, ông là một trong những nghệ sĩ piano  nổi tiếng  của thế kỷ 20  với  cách thể hiện  sâu sắc và kỹ thuật vô cùng điêu luyện.

 

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Песенка про меня (Bài hát về tôi)

Bài hát Песенка про меня (Bài hát về tôi) là nhạc nền của bộ phim «Же́нщина, кото́рая поёт» (người đàn bà hát) – một bộ phim tình cảm âm nhạc, kể về về số phận của ca sĩ nhạc pop Anna Strel'tsova (Анны Стрельцовой). Nhiều lần cô  mong muốn rời bỏ sân khấu vì nghĩ  mình không đủ khả năng phát triển tài năng bản thân. Nhưng rồi cô đã tìm thấy phong cách riêng của mình một thể loại riêng , bài hát riêng. Để đạt được, cô đã phải chia tay với chồng, làm một người mẹ, và trải qua nhiều thử thách...Nữ ca sĩ Alla Pugacheva trong vai Anna Strel'tsova, đã thể hiện thành công tới mức khi nói tới cô, mọi người đều gọi cô là “Người đàn bà hát” ...

Lúc đầu người viết nhạc nền cho bộ phim là Alexander Zatsepin. Tuy nhiên, trong quá trình quay phim giữa Zatsepin và Pugacheva đã có mâu thuẫn...Do đó, Zatsepin từ chối làm một nhà soạn nhạc phim, nhưng đồng ý để lại bài hát của mình trong phim. Và, các nền âm nhạc của phim đã được Alla Pugacheva đảm trách.

слова Л. Дербенева; музыка А. Зацепина
Кто, не знаю, распускает слухи зря,
Что живу я без печалей и забот,
Что на свете всех удачливее я,
И всегда и во всем мне везет.

Так же, как все, так же, как все
Я по земле хожу, хожу.
И у судьбы, как все, как все,
Счастья себе прошу.
да да да да да да да да
да да да да да да да да
да да да да да да да да
Счастья себе прошу.
 
Вы не верьте, что живу я, как в раю
И обходит стороной меня беда.
Точно так же я под вечер устаю
И грущу, и реву иногда.
Так же, как все, так же, как все
Я по земле хожу, хожу.
И у судьбы, как все, как все,
Счастья себе прошу.


да да да да да да да да
да да да да да да да да
да да да да да да да да
Счастья себе прошу.


Жизнь меня порой колотит и трясёт,
Но от бед известно средство мне одно:
В горький час, когда смертельно не везёт,
Говорю, что везёт все равно. 


Так же, как все, так же, как все
Я по земле хожу, хожу.
И у судьбы, как все, как все,
Счастья себе прошу.
да да да да да да да да
да да да да да да да да
И у судьбы, как все, как все,
Счастья себе прошу.

Bài hát về tôi
Chẳng biết ai đang hoài công đồn thổi
Rằng tôi sống vô ưu và chẳng biết buồn
Rằng trên thế gian tôi thành đạt hơn tất cả
Và việc gì tôi cũng may mắn luôn luôn

Cũng thế thôi, như tất cả mọi người
Tôi đang bước, bước đi trên mặt đất
Cầu số phận ban cho mình hạnh phúc
Như mọi người, như tất cả mà thôi

Xin đừng tin tôi sống tựa thiên đường
Và khổ lụy đều tránh qua tôi hết
Tôi cũng thế, lúc về chiều mỏi mệt
Cũng khổ buồn và than khóc đôi khi

Cuộc đời tôi có lúc bị dập vùi
Nhưng tôi biết một cách từ hoạn nạn -
Phút cay đắng, trong tột cùng vận hạn
Tôi nói rằng : như thế vẫn là may

(dịch thơ: Lưu Minh Phương)

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Historia de un Amor (Lịch sử tình yêu)

 "Nhạc phẩm Historia de un Amor ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, dưới ngòi bút của tác giả Carlos Eleta Almaran. Ông sinh năm 1918 tại Panama trong một gia đình giàu có gốc Tây Ban Nha. Thân phụ của ông làm ăn phát đạt nhờ nghề kinh doanh thuốc lá. Vì là con trai cả (trưởng nam) nên Carlos được đặt tên giống hệt như bố, còn đứa em trai (sinh năm 1921) thì mang tên của ông ngoại là Fernando. Thời niên thiếu, hai anh em được gia đình đưa về quê nội là Malaga (Tây Ban Nha) học nội trú, cấp phổ thông. Lên đến đại học, cả hai được gửi sang Mỹ đào tạo.
Sau 4 năm du học, Carlos thi đỗ bằng quản trị kinh doanh, còn Fernando thì tốt nghiệp khoa hành chính. Trở về Panama, hai anh em nối nghiệp cha, điều hành công ty gia đình và các nhà máy sản xuất thuốc lá. Vào đầu những năm 1960, hai anh em thành lập đài truyền hình đầu tiên của Panama, sau đó được khuếch trương thành tập đoàn truyền thông lớn nhất của quốc gia Trung Mỹ này. Người em trai Fernando sau đó chọn sự nghiệp chính trị, ban đầu làm bộ trưởng Thương mại (1965) rồi sau đó được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng Panama. Về phần mình, Carlos Eleta Almaran tiếp tục con đường kinh doanh, nhưng lại nổi danh từ giữa những năm 1950 trở đi nhờ cái tài soạn nhạc.



  Thật ra, tác giả Carlos Eleta Almaran đến với công việc soạn nhạc một cách tình cờ ngẫu nhiên. Thời còn nhỏ, ông được gia đình cho học nhạc, nhưng đàn hát chỉ được xem như là một thú tiêu khiển. Vả lại, ông xuất thân từ một gia đình giàu sang quyền thế, cho nên không cần phải sống nhờ nghề soạn nhạc. Carlos có một người bạn tên là Arturo Hassán (1911-1974), hai người quen nhau từ thưở ấu thơ, chơi thân với nhau dù cách biệt đến 7 tuổi. Nổi danh tại Panama như một nhà soạn nhạc, Arturo Hassán còn được mệnh danh là ‘‘El Chino’’ vì ông có hai dòng máu Âu-Á, thân phụ của ông là người gốc Hoa (José Hassán Chong), sinh trong một gia đình đến lập nghiệp tại Trung Mỹ từ nhiều đời trước.
Theo lời kể của tác giả Arturo Hassán, thì có một lần ông chê Carlos Eleta Almaran là một người có đầu óc thực dụng, tâm hồn quá khô khan như một nhân viên kế toán cho nên khó thể nào mà viết nhạc trữ tình lãng mạn. Bực mình trước câu nói này Carlos Eleta Almaran mới bắt đầu mò mẫm soạn nhạc rồi cho bạn mình nghe thử. Khi khám phá các sáng tác đầu tay của Carlos, tác giả Arturo Hassán phải cúi đầu bái phục. Sáng tác thử nào ngờ lại rất hay, gọi là học trò nhưng lại vượt trội bậc thầy.
Nhạc phẩm Historia de un Amor không phải là sáng tác đầu tiên của Carlos Eleta Almaran. Những ca khúc đầu tay của ông viết vào đầu những năm 1950, mang nhiều hơi hướng dân ca Trung Mỹ, ít dùng bộ gõ La Tinh như các bản nhạc thịnh hành thời bấy giờ. Mãi đến 5 năm sau, ông mới chuyển qua sáng tác nhạc bolero, giữ nguyên cấu trúc bài bản, nhưng lời lẽ cô đọng chắt lọc, ca từ thường được dùng một lần tránh lặp đi lặp lại.
Bản nhạc Historia de un Amor được phát hành vào năm 1955, nhưng được viết từ cả một năm trước đó, khi Carlos chứng kiến nỗi khổ đau tột cùng của người em trai (Fernando) khi ông biết được hung tin là vợ mình qua đời vì tai nạn. Historia de un Amor trước hết là câu chuyện của một mối tình, nói về một hoàn cảnh cá nhân, nhưng lại đạt được tầm mức phổ quát vì nó khắc họa nỗi mất mát thiệt thòi, do số phận tiền định nhiều hơn là hệ quả của sự chọn lựa. Bài hát không chọn bối cảnh cụ thể mà chỉ diễn đạt những lời thở than từ nội tâm, giai điệu sầu não, nỉ non với một chút tủi hờn oán trách làm cho con tim thêm nhức nhối vì nó đề cập đến những đổ vỡ, đứt liền trong tâm hồn của một người buộc phải ở lại.
Theo ghi chú Hiệp hội các tác giả Panama, người đầu tiên ghi âm nhạc phẩm Historia de un Amor là ca sĩ kiêm diễn viên Leo Marini, còn được mệnh danh là giọng ca thần sầu của Argentina. Bản nhạc sau đó được danh ca Libertad Lamarque, với biệt danh là Nữ hoàng Tango, ghi âm làm ca khúc chủ đề cho bộ phim Dimela Al Oido quay tại Mêhicô vào năm 1956. Chưa đầy một năm sau, bản nhạc nổi tiếng trên khắp thế giới một phần vì hầu hết các ca sĩ trứ danh của dòng nhạc bolero đều chọn ca khúc này làm bài tủ (répertoire) của họ.
Phong trào này cực thịnh cho đến những năm 1965, 1966. Nhưng phần lớn cũng vì Historia de un Amor đã được chuyển dịch hàng chục thứ tiếng khác nhau : ngoài các ngôn ngữ rất thông dụng còn phải kể đến tiếng Do Thái, Ba Tư, Croatia hay tiếng Thái. Trong tiếng Việt bài từng được tác giả Anh Bằng thuộc nhóm sáng tác Lê Minh Bằng chuyển ngữ thành nhạc phẩm Chuyện tình yêu với những câu mở đầu rất uớt át mà hầu như mọi người Việt Nam đều biết tới.
Được xem như là một trong 4 gương mặt thuộc hàng Tứ Qúy của Panama (Carlos Eleta Almarán, José Luis Rodríguez Vélez, Arturo Chino Hassan, Ricardo Fábrega), tác giả Carlos Eleta Almaran tiếp tục soạn nhạc khá đều đặn, nhưng không có bài hát nào đạt đến tầm vóc kinh điển như Historia de un Amor. Hầu hết các tên tuổi lớn của làng nhạc quốc tế đều đã ghi âm bài này, Dalida và Dany Brillant trong tiếng Pháp, Luis Miguel hay Cesaria Evora trong tiếng Tây Ban Nha, Amalia Rodriguez tiếng Bồ Đào Nha, tình khúc này với hơn hai ngàn phiên bản khác nhau phá kỷ lục về số lượng ghi âm do ca khúc La Paloma tiêu biểu của dòng nhạc Habanera nắm giữ trước đây trong dòng nhạc La Tinh.
Về mặt quốc tế, Historia de un Amor chỉ đứng sau bài Yesterday của nhóm Tứ Quái The Beatles, Comme d’habitude (My Way) của nhóm sáng tác Claude François & Jacques Revaux, hay Summertime của George Gershwin. Dù được chuyển thể theo điệu nào đi chăng nữa, các phiên bản của Historia de un Amor nổi trội khi giữ được cốt cách mềm mại du dương, chứ không nhất thiết phải phối khí với nhịp điệu La Tinh.
Nhắc đến nhạc phẩm này, tác giả Arturo Hassán từng nhận xét rằng : Historia de un Amor là giai điệu quyến rũ mê hồn, đánh cắp hàng triệu trái tim. Dòng nhạc của Carlos Eleta Almaran trở nên xuất sắc khi nó diễn đạt được tính chất triệt để của tâm hồn La Tinh. Bài hát nói về cái cảnh kẻ ở người đi, nhưng lại khéo dùng một nửa (nửa còn nửa mất, nửa tối nửa sáng) để thể hiện cho sự trọn vẹn nguyên khối, dùng những chi tiết rất nhỏ để nói lên tính muôn thuở nguồn cội của tình yêu tuyệt đối.
Historia de un Amor là một trong những bài hát tủ của Luis Miguel, ông hoàng bolero"
(Theo Tuấn Thảo)

Còn đây là  phần trình bày của  ca sĩ Laura Fygi - nữ ca sĩ Hà Lan nổi tiếng, phần  lời tiếng  Việt mình đã thuộc từ hồi còn học phổ thông,  và một thời suốt ngày nghêu ngao hát…mình chép ra thỉnh thoảng nhớ và hát lại.


Một nàng sao long lanh cặp mắt nhìn về xa xôi
Một vầng trăng nên thơ dịu sáng nhẹ nhàng êm trôi
Và tình yêu như muôn ngàn cánh hoa
Hòa trong con tim muôn nhịp  thiết tha
Đẹp như trăng sao và lời ca
Rồi hồi còi vang trên sông giục giã người tình ra đi
Là từ nay in sâu hình bóng của người chia ly
Để lại bao yêu thương buồn nhớ nhung
Bản tình ca kia còn vấn vương?
Cành hoa kia còn có ngát hương?
Chiếc lá vàng theo gió nhẹ rơi,
sớm từ biệt với cuộc đời
Giống như một tình yêu đã chết
trong phai tàn không một lời
Chiếc lá vàng theo gió về nơi đâu
biết bao giờ ta mới gặp nhau?
Trái tim này đã khắc hận sâu
biết bao nhiêu kỷ niệm ban đầu…





Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

(Tuổi thơ đi đâu rồi?) Куда уходит детство?

Và đây là bài hát một thời tôi thích nhất.....về sự tiếc nuối khắc khoải, da diết một thời đã qua, và chẳng bao giờ lặp lại. Những kỷ niệm thời thơ ấu tựa như bức tranh đủ màu sắc luôn lắng đọng trong ký ức mỗi con người...Cuộc sống vốn vậy mà, chẳng có gì vĩnh cửu...

Куда Уходит Детство
(муз. Л. Дербенев, сл. А. Зацепин)
Куда уходит детство?
В какие города?
И где найти нам средства,
Чтоб вновь попасть туда?
Оно уйдет не слышно,
Пока весь город спит,
И писем не напишет,
И, вряд ли, позвонит.

Припев:
И зимой, и летом небывалых ждать чудес,
Будет детство где-то, но не здесь…
И в сугробах белых, и по лужам у ручья
Будет кто-то бегать, но не я…

  
Куда уходит детство?
Куда ушло оно?
Наверно, в край чудесный,
Где каждый день кино.
Где так же ночью синей
Струится лунный свет…
Но нам с тобой отныне
Туда дороги нет…
 Припев:
И зимой, и летом небывалых ждать чудес,
Будет детство где-то, но не здесь…
И в сугробах белых, и по лужам у ручья
Будет кто-то бегать, но не я…


Куда уходит детство?
В недальние края,
К ребятам по соседству,
К таким же, как и я.
Оно ушло неслышно,
Пока весь город спит…
И писем не напишет,
И, вряд ли, позвонит…

Припев:
И зимой, и летом небывалых ждать чудес,
Будет детство где-то, но не здесь…
И в сугробах белых, и по лужам у ручья
Будет кто-то бегать, но не я…


Đâu rồi tuổi thơ tôi?
Tuổi thơ trôi đi đâu mất rồi?
Tới thành phố xa xôi nào?
Tôi phải làm sao bây giờ
Để sống lại tuổi thơ tôi?
Nó trôi đi rất khẽ khàng
Trong khi tất cả còn ngủ yên
Nó cũng chẳng hề để lại tin
Và ai biết khi nào nó đến?
Xuân trôi qua rồi đông qua
Cuộc đời vẫn chứa bao diệu kì
Tuổi thơ đâu đó vẫn đong đầy
Mà không  là nơi đây
Giữa  mùa đông đầy tuyết bay
Bờ cỏ xanh biếc nơi bờ suối ngà
Là nơi ai đó vẫn nô đùa
mà không là tôi
Tuổi thơ trôi đi đâu mất rồi?
Nó trôi đi rất xa rồi?
Tới nơi thiên đường rất diệu kì?
Khi đi xem phim hàng đêm
Vào đêm trời sáng sao dầy
Ánh trăng lung linh lấp lánh?
Nhưng tôi với bạn từ đây
Không tới  bến bờ xưa nữa
Xuân trôi qua rồi đông qua
Cuộc đời vẫn chứa bao diệu kì
Vẫn có tuổi thơ ai ở nơi nào
Mà không nơi đây
Giữa  mùa đông đầy tuyết bay
Bờ cỏ xanh biếc nơi bờ suối ngà
Nơi ai đó vẫn nô đùa
Mà không có tôi
Tuổi thơ trôi đi về nơi đâu?
Hay còn ở mãi nơi này
Với đám trẻ thơ ở bên nhà
Giống như tôi đã từng quen
Nó trôi đi rất khẽ khàng
Khi tất cả còn ngủ yên
Nó cũng chẳng hề để lại tin
Và ai biết khi nào nó đến?
 Xuân trôi qua rồi đông qua
Cuộc đời vẫn có đầy diệu kì
Tuổi thơ đâu đó vẫn đong đầy
Mà  không nơi đây
Giữa  mùa đông đầy tuyết bay
Cỏ phủ xanh biếc bên bờ suối ngà
Nơi ai đó vẫn nô đùa
Nhưng  không có tôi
NET

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Điều ấy không bao giờ trở lại (Не повторяется такое никогда)

Một trong những bài hát yêu thích của tôi…. 

Не повторяется такое никогда
(Музыка: Серафим Туликов - Слова: Михаил Пляцковский) 
В школьное окно смотрят облака,
Бесконечным кажется урок.
Слышно, как скрипит пёрышко слегка 
И ложатся строчки на листок.
Первая любовь... Школьные года...
В лужах голубых стекляшки льда...
Не повторяется, не повторяется,
Не повторяется такое никогда! 
Не повторяется, не повторяется,
Не повторяется такое никогда! 

Песенка дождя катится ручьём, 
Шелестят зелёные ветра. 
Ревность без причин, споры ни о чём
Это было будто бы вчера. 
Первая любовь... Снег на проводах... 
В небе промелькнувшая звезда...
Не повторяется, не повторяется, 
Не повторяется такое никогда!
Не повторяется, не повторяется,
Не повторяется такое никогда! 
Первая любовь... Школьные года...
В лужах голубых стекляшки льда...
Не повторяется, не повторяется, 
Не повторяется такое никогда!
Не повторяется, не повторяется, 
Не повторяется такое никогда! 
Не повторяется такое никогда!


ĐIỀU ẤY KHÔNG BAO GIỜ TRỞ LẠI  
(Lưu minh Phương dịch)

Những đám mây nhòm qua ô cửa lớp
Giờ học như kéo dài mãi không ngưng
Nghe khẽ khàng tiếng bút lạo xạo rung
Và những dòng chữ đậu lên trang giấy.
Mối tình đầu. Một thời hoa niên ấy.
Những mảnh băng trong vũng nước xanh lơ
Không trở lại, sẽ không còn trở lại
Điều ấy không trở lại nữa bao giờ!
Không trở lại, sẽ không còn trở lại
Điều ấy không trở lại nữa bao giờ!

Khúc hát mưa như suối chảy tuôn dòng
Xao xác những ngọn gió xanh thổi lại
Vô cớ hờn ghen, vu vơ tranh cãi
Điều ấy chừng như vừa mới hôm qua...
Mối tình đầu. Trên dây tuyết giăng ngang
Trên trời cao thoáng ánh sao vụt cháy
Không trở lại, sẽ không còn trở lại
Điều ấy không trở lại nữa bao giờ!
Không trở lại, sẽ không còn trở lại
Điều ấy không trở lại nữa bao giờ!

Mối tình đầu. Một thời hoa niên ấy.
Những mảnh băng trong vũng nước xanh lơ
Không trở lại, sẽ không còn trở lại
Điều ấy không trở lại nữa bao giờ!
Không trở lại, sẽ không còn trở lại
Điều ấy không trở lại nữa bao giờ!

Điều ấy không bao giờ trở lại nữa!

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

TRÁI MÂM XÔI (Ягода-малина )

Mỗi lần nghe lại bài hát  Trái mâm xôi  này lại thấy tâm hồn bay bổng, mình vốn yêu thích những bài hát Nga…


Ягода-малина

(Музыка: Вячеслав Добрынин - Слова: Михаил Пляцковский)
Может помнишь тот сказочный сон,
Позабыт он тобой или нет,
Плыл над полем малиновый звон,
Занимался малиновый свет.
Ягода-малина нас к себе манила,
Ягода-малина летом в гости звала, 
Как сверкали эти искры на рассвете, 
Ах, какою сладкой малина была. 

Тихо лес шелестел колдовской, 
Лишь для нас пели в нём соловьи, 
И малиною спелой такой Пахли тёплые губы твои. 
Ягода-малина нас к себе манила, 
Ягода-малина летом в гости звала,
Как сверкали эти искры на рассвете, 
Ах, какою сладкой малина была. 
Ты мне слово одно подари, 
Над которым не властны века. 
И пускай от сиянья зари Вновь малиновой станет река.
Ягода-малина нас к себе манила, 
Ягода-малина летом в гости звала, 
Как сверкали эти искры на рассвете, 
Ах, какою сладкой малина была.

Ягода-малина нас к себе манила, 
Ягода-малина летом в гости звала, 
Как сверкали эти искры на рассвете, 
Ах, какою сладкой малина была. Ах, какою сладкой малина была.
Ах, какою сладкой малина была.



  TRÁI MÂM XÔI (Lưu Minh Phương dịch) 
 Còn nhớ chăng em hỡi giấc mơ thần tiên
Còn nhớ không em giấc mơ ấy hay đã quên
Bình minh lên tươi thắm cánh đồng quê
Từng hồi chuông ngân thánh thót trên cánh đồng.

Ôi trái mâm xôi bé xinh ơi, lấp lánh như đang vẫy mời
Mùa hạ sang ta sánh đôi đến đây bên gốc mâm xôi
Lấp lánh như đốm lửa hồng đang nhen lên trong ánh dương
Tuyệt vời vị mâm xôi ôi ngày ấy ngọt môi.

Rừng thanh vắng lá hát trong bình yên
Họa my kia riêng hát cho đôi mình thôi
Và môi em thơm ấm ngất ngây nồng say
Ngọt ngào như mùi hương chín trái mâm xôi.

Một lời thôi em nhé, thêm một lần thôi
Để tháng năm ta mãi không bao giờ quên
Và để dòng sông kia cháy lên trong bình minh 
Một màu thắm tươi như trái chín mâm xôi.


Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Lịch sử Phật giáo

   Phật giáo là một tôn giáo được đức Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN. Do đạo Phật được truyền đi trong một hơn hay 2500 năm và lan ra nhiều nơi cho nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của nó khá đa dạng về các bộ phái cũng như là các nghi thức và phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, đức Thích Ca, người truyền đạo Phật, đã thiết lập được một giáo hội với các luật lệ hoạt động chặt chẽ của nó. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với các hoàn cảnh chế độ xã hội, con người, và tập tục ở các thời kỳ khác nhau, nên ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
1. Bối cảnh lịch sử Ấn Độ trước Phật giáo
 Về địa lý, phía Bắc của Ấn Độ là dãy Hy-mã-lạp-sơn (Hymalaya) cao lớn và dài tạo nên một hàng rào cô lập các vùng bình nguyên của xứ này với các vùng còn lại. Để liên lạc với bên ngoài thì chỉ có con đường núi xuyên qua A Phú Hãn (Afghanistan). Nền văn hóa chính ngự trị thời bấy giờ là văn hóa Vệ Đà (Veda). Theo sử liệu hiện nay thì dân tộc Ấn (Veda) có chung tổ tiên với các dân tộc châu Âu là các bộ lạc du mục đã mở mang và xâm chiếm các vùng lãnh thổ Tây Bắc Ấn và lan rộng ra hầu hết bán đảo Ấn Độ khoảng 1000 năm trước Công Nguyên.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

QUÊ HƯƠNG LÀ CHÙM KHẾ NGỌT

Lê Duy Đức (những ngày thực tập tại KL – Malaysia)

Đong cho đầy bột cà phê, tôi mong ngóng vị quê hương nồng lên mũi. Bản piano Gymnopédies trầm lắng và thanh tao chẳng hiểu sao lại kéo tôi về cái không gian cổ kính xứ Đoài thôn Đông, nơi con trâu lầm lũi kéo cái cần cù cực nhọc dài cả cánh đồng...

 Quê hương là chùm khế ngọt,
Cho con trèo hái mỗi ngày.

 Bơi vào vùng ký ức, bám vào cái phao hình ảnh dải đất cong cong hình chữ S, tôi ngụp lặn trong cơn sóng trắng xóa. Gió biển Vũng Tàu thốc vào mặt, kèm theo cát và muối, thổi bay những rối bời tuổi mới lớn. Mảnh đất nhỏ nhắn hiền hòa này tri kỷ với biển từ khi tôi chưa ra đời nữa. Cái bình yên quá giản dị để níu kéo khát vọng và hiếu kỳ của tuổi trẻ, mặc cho những chân trời mới bắt cóc tôi ra khỏi xứ biển trống vắng...

Sáu năm rong ruổi đường, hẻm, ngõ, ngách, chất Sài Gòn len lỏi vào tâm hồn tôi: sôi động, gấp gáp, tiền trao cháo múc, cà phê cuối tuần, thiết bị hitech sành điệu… Cái ngập nửa bánh xe lúc triều cường, cái chen chúc trong Co-op mart tính tiền, cái lô cốt đáng ghét và vô vàn cái điên tiết ấy tự hồi nào hữu cơ hóa đời sống của tôi vào quận Bình Thạnh xô bồ. Sài Gòn nắng hay mưa, những cuộc trò chuyện ăn chơi nhảy múa vẫn đều một vòng quay

 Sài Gòn mưa trưa, nắng sớm
Tìm cho ra ngôi quán êm
Hẹn nhau ngôi xanh như lá
Hẹn nhau trong nắng mượt mà

 Còn đó thủ đô đỏng đảnh cái rét đầu đông và nồng nàn mùi hoa sữa, Sa Pa bồng bềnh trong mây, Phú Quốc trong vắt bờ biển xanh…

 Quê hương đâu chỉ là những địa danh vô cảm. Quê hương còn là người mẹ tần tảo chắt chiu sớm hôm chăm con khôn lớn (đứa con chẳng bao giờ lớn trong thế giới quan của mẹ cả), là người cha chất phác bươn bả vun đắp tổ ấm, là bao tiếng xưng hô anh chị em mày tao cậu tớ ấy cô dì chú bác mợ thím ông bà tôi vô thức bật miệng hằng ngày.

Quê hương nếu ai không nhớ…

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

CÔ TÔI

                 Giữa Sài Gòn sôi động, cuốn hút vào những cuộc mưu sinh không ít căng thẳng và mệt mỏi, đôi khi tôi thả mình vào ký ức về gia đình để tìm lại sự bình thản, niềm an ủi thực kỳ diệu.
            Trong nguồn ký ức đó có hình ảnh của cô tôi - người cũng đang sống ở Thành phố lớn ầm ào này. Và tôi hay nhớ về những ngày cuối tháng 12 năm 1972 kinh hoàng đó…Khi đó, cô  tôi mới sinh em  gái được 4 tháng. Cô vẫn công tác ở Hà nội vì cơ quan của cô chưa phải đi sơ tán.
          Cô là em ruột bố tôi.  Trước đây cô là sinh viên khóa đầu của trường Đại học Bách khoa –ngôi trường hình như chỉ dành cho cánh “mày râu” đạp trời đạp đất, nhưng cô tôi vẫn nổi bật  là sinh viên ưu tú hát hay, học giỏi và nhiều anh chàng đã từng thầm thương trộm nhớ…
           Chẳng hiểu có phải do tình cờ của số phận hay không, cô đã ở bên tôi  trong những giây phút khó khăn, hiểm nguy nhất mà có lẽ tôi không bao giờ quên…
          Ngày 18/12/1972, đang nằm chơi với con gái mới sinh của cô trên giường, bỗng tôi giật mình vì  hồi còi báo động vang lên khẩn cấp, kèm theo tiếng loa phát thanh  : “Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà nội 60 cây số, các lực lượng vũ trang chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu…!”
            Tai tôi như bị ù đi vì tiếng máy bay gầm rú và những tiếng nổ kinh hoàng, từng lớp vữa trên trần nhà thi nhau rớt xuống.  Tôi vội vã xốc em lên tay, loạng choạng chạy ra sân sau, nhảy xuống hầm  (gọi là hồ nước ngầm nhưng cạn nước vì vào mùa đông,  rộng bằng cái sân sau, khoảng chừng 15m2, mà thường ngày tôi rất sợ khi nhìn xuống đó). Con bé chẳng hề khóc, cứ mở to đôi mắt nhìn chị lóng ngóng vừa ôm mình vừa chạy. Đây cũng là lần đầu tiên tôi bế em - cô tôi không cho tôi bế  vì sợ làm rơi em bé...
            Tôi không hiểu vì sao lúc đó tôi có thể vừa bế em, vừa nhảy xuống bể ngầm sâu gần 2m  như vậy, mà không hề có một điểm tựa nào. Lúc mọi người đưa hai chị em lên trên, ai nấy đều ngạc nhiên không thể tin nổi khi thấy cả hai đứa không hề bị xây xát một chút gì. Dường như có một phép màu vậy…
            Cả hai đêm  18,19/12/1972 tôi và cô tôi hầu như không được ngủ, vì những đợt bom B52 cứ liên miên không ngớt. Em bé 4 tháng tuổi cứ giật mình khóc thét mỗi lần có tiếng còi báo động và tiếng ầm ì dai dẳng, gớm ghiếc của máy bay B52.
           Sáng 20/12/72,  Hà Nội có lệnh sơ tán toàn bộ dân chúng- kể cả cơ quan thuộc đầu não của cô tôi. Lúc đó, tôi không thể về nơi sơ tán Bắc ninh với bố mẹ được nữa, vì các ngả đường đều bị phong tỏa và hầu như bị ném bom. Hai cô cháu  đi nhờ xe của quân đội về Hà tây, gia đình cô đang sơ tán ở đó.  Hai ngày hai đêm mất ngủ , cộng với sức khỏe còn chưa hồi phục sau khi sinh em bé, cô tôi đã bị cảm, nóng hầm hập, gương  mặt cô tôi lúc đó trông thật mệt mỏi, nhưng vẫn đẹp làm sao, nhất là đôi mắt của cô, vừa hiền từ, nhân hậu nhưng vô cùng kiên quyết! Sự bình thản, gan dạ, điềm tĩnh lạ thường của một người mẹ đang bị cảm sốt với đứa bé nhỏ xíu trên tay hối hả rời thủ đô vào buổi sáng mùa đông giá lạnh đã giúp tôi có thêm sức mạnh để quên sợ, quên mệt. Tôi cùng cô tôi hòa vào dòng người di tản…
          Khi xe quân đội dừng lại, hai cô cháu còn phải đi bộ thêm một đọan đường khoảng 8km nữa mới tới nơi sơ tán. Không biết bằng cách nào cô kiếm được  cái xe đạp và cái cũi bằng gỗ, buộc đằng sau xe . Cái cũi lúc đó tôi có cảm giác nuốt hết cả người cô, vì nó chỉ được đóng rất sơ sài bằng những thanh gỗ sần sùi, to bản, còn lởm chởm những viền gỗ chưa được bào nhẵn, nó hoàn toàn đối lập với một người mẹ trẻ dáng bé nhỏ, trông thật mong manh. Lúc đó là buổi chiều âm u, lạnh thấu xương, hai cô cháu đi men theo những con đường nhỏ, hai bên chỉ là ruộng và những hố bom sâu như những cái ao,  những chiếc hầm cá nhân không có nắp nằm chơ vơ bên đường. Thỉnh thoảng, cô dừng lại, bế em bé trong cũi ra , và bảo tôi nhảy xuống hầm cá nhân. Những lúc đó tôi chỉ kịp nhìn thấy đạn bay vèo vèo qua người, cô tôi nhoài người ra che cho tôi trong khi tay vẫn ôm khư khư em bé. Trời đã tối nhưng sáng rõ như ban ngày vì tia chớp lửa đạn. Nét mặt, ánh mắt cô tôi lúc đó vẫn bình thản, kiên định cứ  in sâu vào tâm trí tôi cho đến tận giờ…
         Hiện nay, tuy đã nhiều tuổi nhưng cô vẫn sáng suốt, minh mẫn, thông thái, tế nhị như ngày nào. Đã từ lâu nay, cô luôn luôn là điểm tựa tinh thần , là tấm gương cho các con các cháu, là niềm tự hào của cả dòng họ từng một thời vang bóng ở Thành cổ Sơn Tây – thị xã  Sơn tây.
         Còn có một người nữa mà tôi không thể không nói đến khi kể về cô tôi, đó là người bạn đời của cô, một bác sĩ quân y mà anh em tôi vẫn gọi đùa một cách kính trọng là “Thầy lang”. Tôi sẽ kể về chú sớm nhất để những ấn tượng thân yêu về cô tôi được rõ nét hơn.


Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

THÔI GÁC BÚT, CHẲNG LÀM THƠ NỮA


Thôi  gác bút,  chẳng làm thơ nữa
Cứ rong ruổi nhởn nhơ trên những phím đàn
Cười khoan khoái với những tấm ảnh  mèo chó
Hoặc  thả bộ trên từng vỉa hè, con phố
Mỗi buổi chiều về nắng vẫn còn chứa chan.

Thôi buông bút, chẳng họa thơ nữa
Cứ phóng tay mà quên mất mình là ai
Cứ miên man đùa vui, cười  nghịch ngợm
Rồi khóc buồn vương vấn…chẳng giống ai

Dẫu biết  khi làm thơ mình như bay trong mơ
Lúc khôn, lúc dại,  rồi thẫn thờ gào thét
Lúc thì thầm nhỏ nhẹ cười duyên với mây gió
Rồi giật mình tỉnh lại thấy mình thật bơ vơ

Dẫu biết thơ đem lại cho mình nhiều niềm vui hy vọng
Nhưng khi đã vào nhịp thơ
Mình tựa như chong chóng
cứ quay vòng, quay mãi…
thành hình một chữ  Không


Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Prelude op.28, no.4 cung Mi thứ của Frédéric Chopin

           Prelude là khúc dạo đầu ( tiếng Ý có nghĩa là: "dạo ngón trên đàn Lute") - đây là một khúc nhạc ngắn, như một lời nói đầu. Thời kỳ đầu chúng là những khúc ứng tác tự do, là những nét dạo ngắn dùng như những đoạn giới thiệu ngắn cho một đoạn nhạc lớn hơn. Thời kỳ Baroque được dùng để giới thiệu trước khi vào một thể loại khác dài hơn và phức tạp hơn . Sang thời kỳ lãng mạn nó trở thành một tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh,  Frédéric Chopin (1810 - 1849) đã viết một bộ 24 prelude, Op. 28,  là những điệu thức trưởng, thứ quay vòng, được đánh dấu lẻ chẵn. Số lẻ là trưởng, chẵn là thứ, bắt đầu bằng Đô trưởng và mỗi bản được tiếp theo bằng một prelude ở điệu thức tương ứng. Những prelude tiến lên qua dấu thăng tăng dần và dấu giáng giảm dần (ví dụ : No.1 Đô trưởng, No.2 La thứ, No.3 Son trưởng, No.4 Mi thứ…). 

         Prelude op.28, no.4 cung Mi thứ là một trong 24 prelude Frédéric Chopin viết trong mùa đông 1838 -1839 tai Valdermosa- Majorca – một hòn đảo thơ mộng cùng người tình hơn mình 6 tuổi George Sand (Amantine Aurore Lucile Dupin), là vợ cũ của nam tước Casimir Dudevant. 

Nghệ sĩ piano người Pháp François-René Duchâble (1952) trình bày bản nhạc này