Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

The winner takes it all

Một bài hát có ảnh hưởng rất lớn tới mình hồi mới bước vào cuộc sống tự lập xa nhà, xa những người thân yêu nhất của mình, mà hồi đó là bố mẹ, các anh trai, đặc biệt là chị gái thân yêu nhất của mình, đó là bài "The Winner Takes It All" của nhóm ABBA. Mình cứ ấn tượng lời bài hát
“The winner takes it all
The loser has to fall...” và
“The winner takes it all
The loser's standing small”...
Mình đã lặng người khi nghe bài hát này trong n
gày đầu tiên đi làm ở một nơi xa lạ, mới mẻ, càng nghe mình càng thấy ấn tượng...Hồi đó mình chưa biết thế nào là yêu, nên chỉ áp dụng trong cuộc sống của mình tại thời điểm đó. Dần dần, mỗi khi nghe bài hát mình lại nhớ tới sân ga Hàng cỏ ngày ấy, cả nhà mình và các bạn chị gái đi tiễn mình ngồi xung quanh mình, người bắt tay, người khuyên nhủ, người vuốt tóc mình...Thế rồi đến lúc tàu chuyển bánh, mình chẳng bao giờ quên gương mặt chị gái đẫm nước mắt cứ chạy theo đoàn tàu đã chuyển bánh đem theo người em gái thân yêu của mình đi xa, với câu nói văng vẳng theo : nhớ viết thư về nhé, nhớ cẩn thận nhé...Mình ôm mặt khóc, thế là bắt đầu cuộc sống mới - chỉ một mình thôi, mình phải làm gì đây để là một winner? Một winner trong cuộc sống, không bị cuộc đời vùi dập, liệu tất cả sẽ là quân bài trong tay mình?...mình sẽ làm gì đây trong khi mình chỉ có chút kiến thức trong tay, ngoài ra chả biết gì, đến nấu cơm cũng không biết...
Bài hát The winner takes it all thời kỳ đó hầu như chiếm lĩnh hoàn toàn nơi làm việc của mình, lúc nào mọi người cũng mở bài này để nghe...Có lần mình bị cảm vì ra biển ngắm hoàng hôn và cơn mưa bất chợt ập tới, mình phải nằm viện gần một tuần lễ lủi thủi một mình, chỉ có đồng nghiệp đến thăm..những lúc cảm thấy cô độc nhất, mình lại lẩm nhẩm lời bài hát này “The winner takes it all...” và hình như câu này đã theo mình trong suốt quãng đời chiến đấu với cuộc sống....

I don't wanna talk
About things we've gone through
Though it's hurting me
Now it's history
I've played all my cards
And that's what you've done too
Nothing more to say
No more ace to play

The winner takes it all
The loser's standing small
Beside the victory
That's her destiny

I was in your arms
Thinking I belonged there
I figured it made sense
Building me a fence
Building me a home
Thinking I'd be strong there
But I was a fool
Playing by the rules

The gods may throw the dice
Their minds as cold as ice
And someone way down here
Loses someone dear
The winner takes it all
The loser has to fall
It's simple and it's plain
Why should I complain?

But tell me does she kiss
Like I used to kiss you?
Does it feel the same
When she calls your name?
Somewhere deep inside
You must know I miss you
But what can I say?
Rules must be obeyed

The judges will decide
The likes of me abide
Spectators of the show
Always staying low
The game is on again
A lover or a friend
A big thing or a small
The winner takes it all

I don't wanna talk
If it makes you feel sad
And I understand
You've come to shake my hand
I apologize
If it makes you feel bad
Seeing me so tense
No self-confidence
But you see
The winner takes it all
The winner takes it all...

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Một nửa cuộc đời


Nửa đời
may rủi đan xen
Nửa đời
được mất , sang hèn , vô tư
Nửa đời 
vẫn vậy, sớm trưa
Vui trong tia nắng,
hững hờ với mây
Vẫn nhìn theo gió bay bay
Vẫn mơ tưởng đến những ngày sẽ qua
Nửa đời 
ta vẫn là ta
Cần cho ta lắm
TÌM RA CHÍNH MÌNH



Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

"Прощание Славянки"


  Васи́лий Ива́нович Ага́пкин (Vasily Ivanovich Agapkin, 1884-1964) là chỉ huy dàn nhạc quân đội, nhà soạn nhạc, tác giả bài hành khúc nổi tiếng "Farewell  Slavianka" (Chia tay em gái Slavianka) được ông sáng tác năm 1912.
Agapkin sinh năm 1884 tại Ryazan Governorate. Từ 1912-1915, ông học tại trường âm nhạc Tambov và sau đó phục vụ trong quân đội.
Bản nhạc Прощание Славянки"( Farewell Slavianka) ông viết tại Tambov, với cảm xúc từ đáy lòng mình với những người phụ nữ Bungarie tiễn đưa những người thân yêu của mình vào cuộc chiến Balkan lần thứ nhất chống lại người Thổ nhĩ kỳ Ottoman. 

Đã có rất nhiều người viết lời cho bản nhạc này của ông. Tuy nhiên lời ca do Vladimir Lazarev viết vào năm 1984 đã trở nên phổ biến kể từ khi Liên xô tan rã vào năm 1991...và bây giờ nó đã trở thành bản nhạc cho tất cả mọi người, mọi thế hệ, mọi tầng lớp, mọi chế độ...
Chiến tranh Balkan lần thứ nhất (26/9/1912-17/5/1913 theo lịch cũ) là cuộc chiến giữa Liên minh Balkan (bao gồm Serbia, Hy Lạp, Montenegro và Bulgaria) chống lại Đế quốc Ottoman. Liên quân các nước vùng Balkan vượt trội so với quân đội Ottoman vốn thua thiệt về quân số cũng như chiến lược, do đó đã giành chiến thắng nhanh chóng. Kết thúc cuộc chiến, hầu hết các thuộc địa còn lại trên lãnh thổ châu Âu của Đế quốc Ottoman đều bị mất và bị chia cho khối Liên minh. Các sự kiện diễn ra sau đó đã dẫn đến việc thành lập một nước Albani độc lập.

Cùng nghe cặp song ca Zara và Dmitri Pevtsov hát bài này



Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

А лето цвета

  Ю́рий Васи́льевич Шатуно́в (Yuri Vasilievish Shatunov) sinh năm 1973 , là ca sĩ Xô viết và Nga, đặc biệt là người hát chính trong ban nhạc ««Ласковый май» (tháng Năm dịu êm). Ban nhạc Tháng Năm dịu êm được thành lập năm 1986 và tan rã vào năm 1991. Yuri Shatunov đến với ban nhạc vào năm 1988 khi mới 15 tuổi.
Bài hát “А лето цвета ”( Sắc màu mùa hè) do nhạc sĩ kiêm ca sĩ Андрей Викторович Картавцев (Andrey Vichtorovisch Kartavtsev, 1972) sáng tác đã được Yuri Shatunov trình bày khá ấn tượng. Mình thích giai điệu và lời bài hát này....



Жаркий июнь нам возвращает радость ушедших лет.
Как хорошо мне с тобою бывает, и пусть для других секрет.
Волосы мне ты взъерошишь рукою, губами коснешься щеки.
И спросишь, как раньше - какого же цвета лето?
Припев:
А лето цвета неба - огромное и синее.
А лето цвета солнца - золотом расшитое.
А лето цвета ивы - зеленое, красивое.
А лето цвета счастья - почти неуловимое.
На первом свидании мы как-то стесняемся друг другу смотреть в глаза.
А теплые волны о чем-то шептались и в небе смеялась луна.
Пусть годы прошли, но мы давно вместе, и мне не забыть никогда.
Спроси меня снова - какого же цвета лето?
Припев:
А лето цвета неба - огромное и синее.
А лето цвета солнца - золотом расшитое.
А лето цвета ивы - зеленое, красивое.
А лето цвета счастья - почти неуловимое.
А лето цвета неба - огромное и синее.
А лето цвета солнца - золотом расшитое.
А лето цвета ивы - зеленое, красивое.

А лето цвета счастья - почти неуловимое.


Sắc màu mùa hè
(Nhã Lan dịch)
Tháng Sáu oi bức làm chúng mình nhớ lại bao niềm vui đã qua
Anh và em đã hạnh phúc biết bao, và cứ bí mật chằng ai biết
Bàn tay em làm rối tóc anh, đôi môi em hôn nhẹ lên má
Rồi em hỏi anh, Trước đây mùa hè có màu gì hả anh?

Điệp khúc
Mùa hè sắc màu bầu trời -mênh mông và xanh biếc
Mùa hè sắc màu mặt trời- được dệt lên bằng vàng
Mùa hè sắc màu dương liễu- màu xanh lá cây, tươi đẹp
Mùa hè sắc màu hạnh phúc- hầu như chẳng thể nhận thấy

Lần đầu tiên gặp gỡ chúng mình như e ngại nhìn vào mắt nhau
Những cơn sóng ấm áp khe khẽ thì thầm , trên cao trăng cười rạng rỡ
Năm tháng cứ trôi qua, chúng mình bên nhau bấy lâu, và anh chẳng bao giờ quên được
Hãy hỏi lại anh đi em- mùa hè có màu gì vậy anh?
Điệp khúc
Mùa hè sắc màu bầu trời -mênh mông và xanh biếc
Mùa hè sắc màu mặt trời- được dệt lên bằng vàng
Mùa hè sắc màu dương liễu- màu xanh lá cây, tươi đẹp
Mùa hè sắc màu hạnh phúc- hầu như chẳng thể nhận ra


Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

June: Barcarolle (G minor) của Peter Ilyich Tchaikovsky (1840-1893)

  Khúc chèo thuyền tháng 6 (June barcarolle ) cung Sol thứ (Gm) là tác phẩm nổi tiếng nằm trong Tổ khúc bốn mùa (Времена года, Op. 37a hoặc Op. 37b), gồm 12 tiểu phẩm viết cho đàn piano của nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga Peter Ilyich Tchaikovsky (1840-1893)
"Khúc chèo thuyền - Tháng sáu” là một tiểu phẩm khắc họa rõ nét phong cảnh Peterburg trong tổ khúc "Bốn mùa". Chỉ cần nói đến tên của nó cũng làm người ta nhớ đến những con kênh đào và những dòng sông của Thủ đô phương Bắc nước Nga
Barcarolle tiếng Ytalia là khúc chèo thuyền (khúc hát của người chèo thuyền) rất phổ biến tại thành Venice , là cảm hứng bất tận cho các nhà soạn nhạc sáng tác những bản tình ca,  những bản nhạc có giá trị cô cùng to lớn, thậm chí vô giá cho nhân loại...Thể loại "Barcarolle" đã được khá nhiều nhà soạn nhạc thế kỷ thứ 19 như Mendelssohn, Chopin, Tchaikovsky, Fauré, Rachmaninov... sáng tác. Đề tựa "Barcarolle" hầu như đã thể hiện rõ nội dung chính của tác phẩm là những khúc hát, những bản tình ca trên các dòng sông thành Venice. Barcarolle có ảnh hưởng rất lớn tới nền âm nhạc Nga đầu thế kỷ 19 , và trở thành một phần không thể thiếu được trong nền âm nhạc Nga và cả trong lĩnh vực thơ ca , hội họa Nga.  Nhà soạn nhạc thiên tài người Ba lan F. Chopin cũng có một tác phẩm duy nhất Barcarolle và bản nhạc này đã đi vào huyền thoại, mình cũng có tải về blog này vào tháng 1/2014.
Nhịp điệu và giai điệu của Khúc chèo thuyền tháng 6 làm chúng ta liên tưởng tới những động tác chèo nhịp nhàng và tiếng mái chèo khua nước, dường như ta cũng như đung đưa theo từng nhịp chèo, cảm nhận thấy tiếng nước róc rách...mỗi lúc một nhanh, rộn ràng...Và dần dần giai điệu chậm lại...người nghe cảm nhận  một sự bình an, thanh thản đến diệu kỳ, và con thuyền đã đi xa, tiếng chèo thuyên nhỏ dần rồi tắt hẳn...
Cùng nghe  nghệ sĩ piano người Nga Sviatoslav Teofilovich Richter (1915-1997)

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

The French Suites , BWV 812-817 của J.S Bach

  Johann Sebastian Bach (1685-1750). Nhà soạn nhạc người Đức thời kỳ Baroque (1600 – 1750) với khả năng thiên tài trong cấu tạo đối âm, hòa âm, và tiết tấu, cũng như khả năng điều tiết nhịp điệu, hình thái, và bố cục âm nhạc nước ngoài, nhất là từ Ý, và Pháp. Bach đã góp phần làm giàu nền âm nhạc Đức...Ông là một trong những nhà soạn nhạc có nhiều ảnh hưởng nhất của thời kỳ Baroque, và là một trong số những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất từ trước đến nay.
  The French Suites, BWV 812-817 là sáu tác phẩm âm nhạc (tổ khúc) mà Johann Sebastian Bach đã viết cho Clavier (harpsichord hoặc clavichord) ( đàn phím cổ) vào khoảng giữa những năm 1722 và 1725. Các phần âm nhạc này đã được Friedrich Wilhelm Marpurg ghi âm vào năm 1762 và lấy tên là The French Suites.

Tháng trước mình cũng đã tải lên English Suites, BWV 806-811 – cũng một tập hợp sáu phần nhạc mà Johann Sebastian Bach viết cho harpsichord. 
The Suites Pháp, BWV 812-817 gồm 6 phần như sau:
* Suite No. 1 in D minor, BWV 8121 (Suite số 1 cung Rê thứ, BWV 812)
1. Allemande (một điệu nhảy dân gian Đức)
2. Courante (điệu nhảy quí tộc dành cho cặp đôi thịnh hành vào cuối thế kỷ 16  ở Anh và Pháp)
3. Sarabande (
một điệu nhảy nhịp 3/4)
4. Menuet I/II (một điệu nhảy nhẹ)
5. 
Menuet
* Suite No. 2 in C minor, BWV 813 (Suite số 2 cung Đô thứ, BWV 813)
1. Allemande
2. Courante
3. Sarabande
4. Air
5. Menuet
6. Menuet – Trio (in BWV 813a)
7. Gigue (điệu nhảy Baroque xuất xứ từ Anh)
* Suite No. 3 in B minor, BWV 814 (Suite số 3 cung Si thứ, BWV 814)
1. Allemande
2. Courante
3. Sarabande (một điệu nhảy nhịp 3/4)
4. Anglaise – Bach. Phần này Bach thường đặt tên là  Gavotte (một điệu nhảy gần giống điệu nhảy Anh)
5. Menuet
6. Trio.
7. Gigue
* Suite No. 4 in E-flat major, BWV 815 (Suite số 4 cung Mi giáng trưởng, BWV 815)
1. Allemande
2. Courante
3. Sarabande
4. Gavotte
5. Air
6. Minuet
7. Gigue
* Suite No. 5 in G major, BWV 816 (Suite No. 5 cung Sol trưởng, BWV 816)
1. Allemande
2. Courante
3. Sarabande
4. Gavotte
5. Bourrée
6. Loure
7. Gigue
* Suite No. 6 in E major, BWV 817 (Suite No. 6 cung Mi trưởng, BWV 817)
1. Allemande
2. Courante
3. Sarabande
4. Gavotte
5. Polonaise
6. Bourrée
7. Menuet
8. Gigue

 Cùng nghe András Schiff (1953) – nghệ sĩ chuyên piano cổ điển người Hungarian trình bày tổ khúc này

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Partita for keyboard No. 6 in E minor, BWV 830 - Johann Sebastian Bach


   Tổ khúc dành cho đàn phím , số 6 cung Mi thứ  (Partita for keyboard No. 6 in E minor, BWV 830) do Johann Sebastian Bach (1685 - 1750)  sáng tác trong khoảng thời gian từ 1726 - 1729 và xuất bản năm 1731 . Đây là tổ khúc cuối cùng của ông viết cho đàn phím. Có những tác phẩm của Bach được gọi là Partita (và sonata), và Suite (tổ khúc) có thể làm cho chúng ta hơi ngỡ ngàng vì có những điểm tương đồng ở tên các chương như là Allemada, Sarabanda,Corenta, Gavotta v.v
Partita (thường xuất hiện ở Đức từ sau 1700) là thể loại phát triển từ Dance suite. Dance suite là 1 thể loại gồm nhiều chương trên các điệu nhảy , phổ biến nhất là Allemanda, Sarabanna, Correnta, Gavotta ... Suite thịnh hành ở nhiều nước, trong đó Pháp, Partia là thể loại French suite thính phòng. 
Tổ khúc này gồm 7 phần và tất cả đều ở cung Mi thứ
I. Toccata (bản nhạc dành riêng cho đàn phím)
II. Allemande (điệu nhảy dân gian Đức)
III. Corrente (điệu nhảy coranto) 
IV. Air (melody) 
V. Sarabandeis (Điêu nhảy ba bước một)
VI. Tempo di gavotta (điệu nhảy Pháp)
VII. Gigue : (Điệu nhảy baroque có xuất xứ từ Anh)

 Nghe nghệ sĩ piano kiêm nhạc trưởng người Mỹ  sinh năm 1947 Murray Perahia
Trình bày tác phẩm này

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Край ты мой заброшенный (Miền quê tôi bị bỏ rơi)

Край ты мой заброшенный (Miền quê tôi bị bỏ rơi) Серге́й Алекса́ндрович Есе́нин (1895-1925) (Sergei Alexandrovich Exenhin) sáng tác năm 1914 – lúc ông 18 tuổi,  khi đã trở thành chàng trai nông dân Nga đầy nhiệt huyết nhưng cũng đầy day dứt, suy tư qua những vần thơ cháy lòng..nhức nhối nhưng đậm chất thơ...
Có lẽ mình không dám phân tích thêm về bài thơ này của ông, bởi lẽ mình chỉ là người yêu tiếng nga và thơ Nga, mình chỉ dám có chút suy nghĩ của riêng mình về bài thơ này và mạo muội chuyển tải ra tiếng việt với tất cả sự ngưỡng mộ, thành kính nhà thơ tài năng mà mình yêu thích...
Những từ mình tô đậm là những từ đã được các nhà phân tích ý nghĩa cách dùng từ, và ứng dụng nó quá tuyệt vời của nhà thơ, mà, có lẽ, người đọc phải suy ngẫm thật lâu để cảm nhận nó...
Mình đã dịch bài thơ НОЧЬ (Đêm) của Exenhin và tải vào blog này hồi tháng 7/2014. Bài này ông viết vào năm 1911-1912, năm ông 15- 16 tuổi
Mình thích đọc thơ Exenhin, nhưng dịch thơ ông thì quả thật khó, bởi thơ ông là tổng hợp tất cả những xúc cảm – sâu sắc, thật trí tuệ nhưng vô cùng bình dị, chỉ một chữ của ông thôi cũng phải suy nghĩ và tưởng tượng ra như trong thế giới của ông vậy...

Край ты мой заброшенный,
Край ты мой, пустырь,
Сенокос некошеный,
Лес да монастырь.

Избы забоченились,
А и всех-то пять.
Крыши их запенились

В заревую гать.

Под соломой-ризою
Выструги стропил,
Ветер плесень сизую

Солнцем окропил.

В окна бьют без промаха
Вороны крылом,
Как метель, черемуха

Машет рукавом.

Уж не сказ ли в прутнике
Жисть твоя и быль,
Что под вечер путнику
Нашептал ковыль?

1914

Miền quê tôi chìm trong quên lãng
Miền quê tôi hoang vắng, trống không
Khu rừng, tu viện cỏ dại mênh mông
Quanh năm chẳng  bóng người cắt cỏ 


Những căn nhà gỗ liêu xiêu trong gió

Cả ngôi làng chỉ có năm căn

Những mái nhà phập phồng sủi rộp
Tựa tấm gỗ bắc qua đầm lầy tăm tối
Trong lấp loáng bóng hoàng hôn

Dưới tấm áo choàng rơm rạ
Gió vuốt ve những vì kèo
Xám xịt, mốc meo, ẩm ướt
Ánh mặt trời muốn lên rêu

Bầy quạ vươn thẳng đôi cánh
Đập vào những ô cửa sổ 
Cây anh đào, như bão tuyết
ngúng ngẩy những bàn tay.

Liệu có câu chuyện nào kể lại
Như bạn đã từng trải qua?
Điều gì cây vũ mâu trong đêm
Thầm thì với lữ khách?
1914

 (Nhã lan phỏng dịch)


Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Trả mưa cho anh, em về với nắng

Ngày em về xứ nắng
Anh tiễn em
Mưa mịt mờ ngõ nhỏ
Quán bụi bên hè
Bâng khuâng, lưu luyến
Cứ dùng dằng
như muốn níu bước chân em


Nhớ những ngày mới quen
Anh luôn nói
Chúng ta dường như là một
Những điều anh còn đang suy tư , lặng lẽ
em đã nói ra hết rồi....
Anh thường thủ thỉ:
Anh thích hoa, thích nhạc, chụp ảnh
Thích thơ ca, lang thang phố phường
Thích bè bạn, ngao du đây đó
Và thích làm những vần thơ dậy sóng tình yêu...

Xa nhau rồi
Nhớ những phút phiêu diêu
Nào Hồ tây, phố cổ, Hồ Gươm
Hồ Trúc bạch lặng sóng
Quán Cari Ấn độ
cay , nóng
xao xuyến vấn vương

Anh còn nhớ không
Quán cóc xinh xinh
cạnh Phủ Tây hồ?
những giọt nước nhỏ lung linh
trong mưa
nhảy múa

Trả mưa cho anh,
em về với nắng
Chỉ còn thấy anh
Trong những giấc mơ...



Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Люблю тебя до безумия

  Một bài hát mình cũng khá ấn tượng là bài “Люблю тебя до безумия “ (Anh yêu em say đắm), do А.Слончинский ( A. Slonchinski) soạn nhạc, lời thơ П.Бертош (P. Bertosh) với giọng ca của nam ca sĩ người Belarus Алексей Иванович Хлестов (1976), một ca sĩ nổi tiếng và được nhiều khán giả mến mộ . Lời bài hát này được giải thưởng  lời ca hay nhất trong năm 2010.
Под осенним дождем
Озябну под холодом
Мы одни посреди шумного города
Мы молчим, но звучит в этом молчании
Наших ангелов плач, полный отчаянья



Припев:
Я хочу не думать о тебе, только не могу
Каждый раз прощаясь навсегда сам себе я лгу
Я не в силах вычеркнуть тебя из своих страниц
Снова ищу твой взгляд средь незнакомых лиц
Снова растворяюсь я в своих видениях
Это не любовь, это уже наваждение
Иногда мне кажется, что я без тебя не я
Просто люблю тебя
Я до безумия

Всё прошло, мы теперь два одиночества
Ты одна, я один
История кончилась
Ка вода и огонь с тобою мы разные
Только нитью одной всё-таки связаны
Припев.
Припев.

Anh yêu em say đắm
(Nhã lan dịch)

Chỉ mình anh và em
Đơn độc giữa thành phố ồn ào, sôi động
Trong mưa thu lạnh giá
Chúng mình lặng im, nhưng trong sự im lặng này
Tiếng khóc của những thiên thần của chúng ta vẫn ngân vang
ngập tràn nỗi tuyệt vọng

Điệp khúc:

Anh muốn không nghĩ đến em nữa
Chỉ là anh không thể ...
Mỗi lần anh nói lời chia tay là anh đang dối lòng mình ...
Anh không đủ sức để xóa hình bóng em trong anh
Lại thêm một lần anh tìm ánh mắt em giữa những gương mặt xa lạ
Lại thêm một lần vô vọng

Đó không phải là tình yêu, mà là nỗi ám ảnh

Đôi lúc anh cảm giác anh chẳng là gì nếu không có em ...
Đơn giản vì anh yêu em
Anh đã yêu điên dại!

Mọi thứ đã qua đi, anh và em là hai kẻ đơn độc

Em là em, anh là anh
Câu chuyện của chúng ta đã kết thúc
Chúng mình như lửa và nước vậy
chỉ kết nối với nhau bằng sợi chỉ mong manh
Điệp khúc:
Điệp khúc:

Nghe bài hát với hình ảnh minh họa trong clip dưới đây nói về tình yêu cuồng si của Деймон  với Елена - hai nhân vật chính trong phim "Nhật ký Ma cà rồng" 

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Bach-Busoni: Chaconne in D Minor BWV 1004

Bach- Busoni Chaconne D Minor BWV 1004 là tác phẩm âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài thời kỳ baroque Johann Sebastian Bach (1685-1720) , được nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm tài năng người Ý Ferruccio Dante Michelangelo Benvenuto Busoni ( 1866 – 1924) chuyển soạn cho piano .
Mình chỉ là một người thích nghe nhạc, qua tìm hiểu, đọc về Bach và hậu duệ của ông - 
Ferruccio Busoni, mình muốn dành thời gian nhiều hơn để khám phá và tận hưởng những giai điệu vô cùng huyền bí và quyến rũ này...Bach vốn là vậy mà, kỳ ảo, mê đắm và bí ẩn, cứ ám ảnh mãi một khi đã nghe ...

Cùng nghe nghệ sĩ piano người Nga-Anh- Israel Evgeny Igorevitch Kissin (1971) trình bày tác phẩm này:

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

English Suites, BWV 806-811 của Johann Sebastian Bach (1685-1750)

  Johann Sebastian Bach (1685-1750) - nhà soạn nhạc người Đức thời kỳ Baroque (1600 – 1750) với khả năng thiên tài trong cấu tạo đối âm, hòa âm, và tiết tấu, cũng như khả năng điều tiết nhịp điệu, hình thái, và bố cục âm nhạc nước ngoài, nhất là từ Ý, và Pháp, Bach đã góp phần làm giàu nền âm nhạc Đức...Ông là một trong những nhà soạn nhạc có nhiều ảnh hưởng nhất của thời kỳ Baroque, và là một trong số những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất từ trước đến nay.
English Suites, BWV 806-811 là một tập hợp của sáu phần nhạc phòng mà Johann Sebastian Bach viết cho harpsichord (bàn phím- một loại đàn phím cổ được dùng trong thời kỳ Baroque) . Tác phẩm này được cho là ra đời sớm nhất trong số 19 tác phẩm của ông sáng tác cho bàn phím...(Thời đó chưa có đàn piano)
   Sáu phần của tác phẩm English Suites này được Bach sáng tác trong khoảng giữa 1718- 1720. Tuy nhiên theo các nghiên cứu mới đây thì cho rằng Bach đã sáng tác trong khoảng năm 1715.
Sáu  phần Tổ hợp khúc Anh như sau:

1. Suite in A major, BWV 806
Prelude, Allemande, Courante I, Courante II, Double I, Double II, Sarabande, Bourrée I, Bourrée II, Gigue. This suite is unusual in that it has two Courantes, and two Doubles for the second Courante.
2. Suite in A minor, BWV 807
Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Bourrée I, Bourrée II, Gigue
3. Suite in G minor, BWV 808
Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Gavotte I, Gavotte II, Gigue
4. Suite in F major, BWV 809 
Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Menuet I, Menuet II, Gigue
5. Suite in E minor, BWV 810
Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Passepied I, Passepied II, Gigue
6. Suite in D minor, BWV 811
Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Double, Gavotte I, Gavotte II, Gigue
Mình chỉ là một khán giả yêu nhạc, không phải là nhà nghiên cứu âm nhạc thời kỳ tiền cổ điển (Baroque), nhưng nghe Bach, mình thấy tâm hồn thanh thản lạ thường, hình như mọi điều khúc mắc trong đầu dường như muốn tan chảy, và mình cứ muốn theo mãi, theo mãi dòng nhạc ấy, nó kỳ bí làm sao, như có ma lực bí hiểm nào đó vậy...
Và, khi nghe Bach xong, phải sau một khoảng thời gian mình mới nghe các nhà soạn nhạc khác....

Mình thích nhất English Suite số 3 cung Sol thứ (Gm) BWV808, cùng nghe nhé


Cùng nghe toàn bộ 6 bản trong English Suite này:

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Bản nhạc tuyệt vời!

Mình có tập và chơi bản “Mariage D’amour”, tác giả là - Paul de Senneville - nhà soạn nhạc Pháp. Bản này Richard Clayderman trình bày đã được đông đảo khán giả thế giới yêu thích. Tuy nhiên Video này lại ghi là bản Valtz mùa xuân của F.Chopin, mà quả thật nghe giai điệu hơi khác với bản “Mariage D’amour”...Mình đã nghe 17 bản Valtz của Chopin rồi, nhưng chưa thấy bản nào vậy cả...Tuy nhiên, theo các tài liệu và nguồn tin , thì nhiều bản Valtz của Chopin đã bi mất hoặc bị thất lạc...
Và hiện giờ, mình rất mong có ai đó cung cấp bản nhạc của bài này trong Video này , vì quả thật hay vô cùng...còn tác giả là ai? Xin thời gian và độc giả quan tâm và yêu thích đi tìm câu trả lời.
Lúc này thì nghe và cảm nhận những giai điệu tuyệt vời, trong vắt như pha lê, tựa như tiếng suối róc rách bao niềm tâm sự thầm kín...


  Richard Clayderman  và bản “Mariage D’amour”   

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

"Lời cầu nguyện của trinh nữ" - ấn phẩm số 4 ( Modlitwa dziewicy Op 4)

   "Lời cầu nguyện của Trinh nữ" (tiếng Ba Lan:  Modlitwa dziewicy Op 4; tiếng Pháp: La prière d'une Vierge) là tác phẩm của nữ soạn nhạc người Ba Lan Tekla Bądarzewska-Baranowska (1834-1861), được trình bày năm 1856 tại Warsaw...Dân piano nghiệp dư thường nói với nhau là : Đã chơi piano phải chơi bản này, vì giai điệu của nó thật tuyệt vời, tinh tế, và đòi hỏi kỹ thuật tay điêu luyện cũng như cảm xúc thăng hoa, và thật sự trong sáng....vì nó tựa như nỗi niềm tâm sự kín đáo mà ngây thơ, trong trắng của thiếu nữ chưa biết đến thế nào là tình yêu thực sự....vừa lãng mạn lại vừa tinh tế, quí phái, trang trọng nhưng cũng không kém phần “bay nhảy”...., nó đã làm rung động biết bao con tim yêu nhạc- cả giới ô mai, thế giới đàn bà mọi lứa tuổi cho đến cả phái mày râu....thật quyến rũ...
  Bądarzewska sinh 1834 tại Warsaw . Bà sinh năm người con , một trong năm người con của bà đã theo nghề nghiệp của mẹ... Bądarzewska đã viết khoảng 35 tác phẩm cho piano , và bản nhạc nổi tiếng nhất là bản “Lời cầu nguyện trinh nữ”
  Người chị họ của mình đã chơi bản này vô cùng hấp dẫn- bởi lẽ chị vẫn còn “trinh nữ “khi đã bước vào tuổi 60...Mỗi khi mình nghe chị chơi bản này, mình muốn rơi lệ, nhưng vẫn mỉm cười vui sướng, mãn nguyện...bởi lẽ chị đã chơi với tất cả tâm hồn ...Điều đáng nói ở đây là chị không hề học trường âm nhạc, mà tự học từ nhỏ....

Hai video clip dưới đây tuy không phải do chị chơi, nhưng nghe lại nhớ đến những ngón tay điêu luyện của chị lướt trên phím đàn...một dịp nào đó gặp chị mình sẽ ghi âm và hình ảnh lại

< <

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Có những ngày....



Có những ngày
em nước mắt tuôn rơi
Thề với giọt nắng, sương đêm
Sẽ chẳng làm thơ nữa
Có những lúc
con tim em nức nở
Vật vờ theo gió
Vươn tới trời cao
Từng dòng thơ
chảy vào cơn ác mộng...

Em ngỡ tưởng
Thế gian này đẹp lắm
Nào là Hoa, là Trái,
là Áng mây bay
Là nắng đẹp,
là làn mưa rơi,
là cơn gió thoảng...
Rồi tỉnh giấc
trong trời đông lạnh giá
Hai chữ “Vô thường”
Lấp loáng bay qua