Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

All of me

"All Of Me" là bài hát trong Album “Love in the future” phát hành ngày 12/8/2013 thuộc thể loại R&B (Rhythm and blues ) do John Roger Stephens (John Legend) - ca sĩ, nhạc sĩ , diễn viên người Mỹ sinh năm 1978 sáng tác, đây là một thể loại  nhạc người Mỹ gốc Phi  rất  ưa chuộng tai Mỹ trong những năm 40 và ngày càng trở nên phổ biến. Album “Love in the Future” đã được đề cử là Album nhạc R&B hay nhất tại giải Gramy 2014  tới.
Bản "All of me" do John Legend trình bày  hòa quyện với tiếng violin của Lindsey Stirling (1986), nữ  nghệ sĩ vĩ cầm trẻ tuổi, kiêm nhạc sĩ, vũ công người Mỹ , vừa kiêm nghệ sĩ thực hiện và là nhà soạn nhạc, đã từng vào chung kết mùa thứ 5 Got Talent của Mỹ, nơi cô được mọi người gọi là Hip Hop Violinis. (Hip hop: Một dòng nhạc phát triển từ nhạc RAP, Hip hop có tiết tấu và giai điệu phức tạp hơn, kết hợp các phần hát và nói, với phần nền mô típ âm thanh hay nhạc cụ SAMPLE - thuật ngữ âm nhạc)


What would I do without your smart mouth
Drawing me in and you kicking me out?
Got my head spinning, no kidding
I can't pin you down
What's going on in that beautiful mind?
I'm on your magical mystery ride
And I'm so dizzy, don't know what hit me
But I'll be alright

My head's underwater
But I'm breathing fine
You're crazy and I'm outta my mind

Cause all of me loves all of you
Love your curves and all your edges
All your perfect imperfections
Give your all to me, I'll gives my all to you
You're my end and my beginning
Even when I lose, I'm winning
'Cause I give you all of me
And you give me all of you, oh

How many times do I have to tell you
Even when you're crying, you're beautiful too?
The world is beating you down
I'm around through every mood
You're my downfall, you're my muse
My worst distraction, my rhythm and blues
I Can't stop singing, this ringing in my head for you

My head's underwater
But I'm breathing fine
You're crazy and I'm out of my mind

Cause all of me loves all of you
Love your curves and all your edges
All your perfect imperfections
Give your all to me, I'll give my all to you
You're my end and my beginning
Even when I lose, I'm winning
'Cause I give you all of me
And you give me all, all of you

Cards on the table
We're both showing hearts
Risking it all though it's hard

Cause all of me loves all of you
Love your curves and all your edges
All your perfect imperfections
Give your all to me
I'll give my all to you
You're my end and my beginning
Even when I lose, I'm winning
ause I give you all of me
You give me all, all of you, oh
I give you all, all of me, yeah,
And you give me all, all of you, oh

Tất cả mọi thứ trong anh
Anh sẽ làm được gì đây nếu không có lời nói thông tuệ của em
Đã đem anh lại bên em và em lại đẩy anh ra ?
Làm đầu anh quay cuồng, nhưng anh chẳng đáp trả lại
Anh không  thể ép buộc em
Những gì đang xảy ra trong thế giới tâm hồn tuyệt đẹp này?
Anh đang trên chuyến đi  huyền diệu bí ẩn của em
Và anh thấy chóng mặt, không biết những gì đã va vào anh
Nhưng anh sẽ qua thôi

Nước ngập qua đầu anh
Nhưng anh vẫn thở được
Em điên rồi và anh hoàn toàn mất tự chủ

Bởi lẽ anh đã yêu tất cả những gì của em
Yêu những đường cong  và tất cả góc cạnh thân thể em
Yêu cả những khiếm khuyết hoàn hảo của em
Em cho anh tất cả, và anh cũng cho em tất cả
Em là phần cuối và cả phần đầu của anh
Ngay cả khi anh thua cuộc, anh cũng đang chiến thắng
Bởi lẽ anh đã cho em tất cả những gì của anh
Và em cho anh tất cả những gì của em, oh

Bao nhiêu lần anh phải nói với em
Ngay cả khi em đang khóc, rằng em xinh đẹp quá?
Thế gian này đang vùi dập em
Anh cảm nhận  qua những tâm trạng khác xung quanh anh
Cô bé đang quị ngã của anh, nàng thơ của anh
Sự điên cuồng tồi tệ nhất của anh, nhịp điệu và blues của anh
Anh không thể ngừng cất lên những giai điệu trong ý nghĩ của anh dành cho em

Nước ngập qua đầu anh
Nhưng anh vẫn thở được
Em điên rồi và anh hoàn toàn mất tự chủ

Bởi lẽ anh đã yêu tất cả những gì của em
Yêu những đường cong  và tất cả góc cạnh thân thể em
Yêu cả những khiếm khuyết hoàn hảo của em
Em cho anh tất cả, và anh cũng cho em tất cả
Em là phần cuối và cả phần đầu của anh
Ngay cả khi anh thua cuộc, anh cũng đang chiến thắng
Bởi lẽ anh đã cho em tất cả những gì của anh
Và em cho anh tất cả những gi của em, oh

 Những tấm thẻ ở  trên bàn
Hai trái tim của anh và em hiển hiện rõ
Chúng mình mạo hiểm tất cả mặc dù thật khó khăn

Bởi lẽ anh đã yêu tất cả những gì của em
Yêu những đường cong  và tất cả góc cạnh thân thể em
Yêu cả những khiếm khuyết hoàn hảo của em
Em cho anh tất cả, và anh cũng cho em tất cả
Em là phần cuối và cả phần đầu của anh
Ngay cả khi anh thua cuộc, anh cũng đang chiến thắng
Bởi lẽ anh đã cho em tất cả những gì của anh
Và em cho anh tất cả những gì của em, oh
Oh, anh cho em tất cả những gì của anh
Em cho anh tất cả những gì của em, oh
Anh cho em tất cả những gì của anh, tất cả của anh, yeah,
Và em cho anh mọi thứ của em, oh

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Rasputin với ban nhạc Boney M

Bài hát  Rasputin là bài trong đĩa đơn do Frank Farian- nhà sản xuất âm nhạc người Tây Đức  phát hành vào ngày 28/8/1978 , bài hát thuộc thể loại Euro disco của ban nhạc lừng danh Boney M,  thành lập năm 1975 gồm 4 thành viên là Liz Mitchel, Marcia Barrett, Maizie Williams, và Bobby Farrell. Rasputin là ca khúc hầu như đã đi vào lòng những người hâm mộ trên toàn thế giới và cả Việt Nam vào những năm 80. Nội dung bài hát này có nói đến Grigori Yefimovich Rasputin (Григорий Ефимович Распутин 1869-1916) , một nhân vật có thật trong lịch sử, đầy bí ẩn và có quyền thế – người bạn và cố vấn thân cận của Sa hoàng Nicholas II của Nga và gia đình họ trong thời gian đầu thế kỷ 20. Mọi câu chuyện quanh ông là những huyền thoại về quyền lực, và cái chết vô cùng thê thảm, mãi mãi là bí ẩn, không bao giờ có lời giải đáp. Trong bài hát thì có hư cấu một chút về ông: là một tay chơi, người chữa bệnh thần bí, và là đấng tạo hóa chính trị.  Trong bài hát miêu tả tương đối trùng hợp: bị đầu độc, nhưng không chết, nên bị bắn 4 phát và đánh đập rồi vứt xác xuống sông. Bài hát này một thời đã từng bị cấm lưu hành ở Liên xô trước đây.  Tuy nhiên, chỉ có mỗi bài này là bị kiểm duyệt, còn Boney M thì vẫn được đất nước vĩ đại này nhiệt tình chào đón. 


There lived a certain man in Russia long ago
He was big and strong, in his eyes a flaming glow
Most people looked at him with terror and with fear
But to Moscow chicks he was such a lovely dear
He could preach the bible like a preacher
Full of ecstacy and fire
But he also was the kind of teacher
Women would desire

RA RA RASPUTIN
Lover of the Russian queen
There was a cat that really was gone
RA RA RASPUTIN
Russia's greatest love machine
It was a shame how he carried on

He ruled the Russian land and never mind the czar
But the kasachok he danced really wunderbar
In all affairs of state he was the man to please
But he was real great when he had a girl to squeeze
For the queen he was no wheeler dealer
Though she'd heard the things he'd done
She believed he was a holy healer
Who would heal her son

(Spoken:)
But when his drinking and lusting and his hunger
for power became known to more and more people,
the demands to do something about this outrageous
man became louder and louder.

"This man's just got to go!" declared his enemies
But the ladies begged "Don't you try to do it, please"
No doubt this Rasputin had lots of hidden charms
Though he was a brute they just fell into his arms
Then one night some men of higher standing
Set a trap, they're not to blame
"Come to visit us" they kept demanding
And he really came

RA RA RASPUTIN
Lover of the Russian queen
They put some poison into his wine
RA RA RASPUTIN
Russia's greatest love machine
He drank it all and he said "I feel fine"

RA RA RASPUTIN
Lover of the Russian queen
They didn't quit, they wanted his head
RA RA RASPUTIN
Russia's greatest love machine
And so they shot him till he was dead
(Spoken:) Oh, those Rus
sians...

RASPUTIN
(Nhã Lan dịch)
Thuở ấy, có một người đàn ông ở nước Nga
Ông thật to lớn và mạnh mẽ, ánh mắt rực sáng lên ngọn lửa
Tất cả mọi người khi nhìn ông đều lo lắng khiếp sợ
Nhưng với những cô gái Moscow thì  ông thật đáng yêu
Ông thuyết trình về kinh thánh như một nhà truyền giáo
Tràn ngập đam mê và  ngọn lửa sáng rực
Nhưng ông cũng là một ông thầy
Mà mọi phụ nữ luôn mơ ước

RA RA Rasputin
Người tình của nữ hoàng Nga
Một nhà tài phiệt  thực sự đã ra đi
RA RA Rasputin
Cỗ máy tình yêu lớn nhất của nước Nga
Một sự nhục nhã, đắng cay mà ông đã phải đón nhận

Ông đã cai trị nước Nga và không bao giờ  là Sa hoàng nước Nga
Những vũ điệu kasachok* ông nhảy thật tuyệt vời, đẹp mắt
Trong tất cả các công việc của đất nước, ông luôn làm hài lòng tất cả
Nhưng ông đã thực sự nổi tiếng khi có một cô gái ép buộc ông
Đối với  nữ hoàng ông không phải là người hoang đãng
Mặc dù bà ấy đã biết những điều ông đã làm
Bà tin  ông là một người chữa  bệnh thần thánh
Và ông sẽ chữa khỏi bệnh cho con trai bà

(đọc lời)
Nhưng lúc ông say xỉn và lòng ham muốn và cơn thèm khát cháy bỏng
Càng ngày càng nhiều người biết đến quyền lực của ông,
Những nhu cầu đòi hỏi  đáp ứng cho người đàn ông quyền lưc này
Càng trở nên lớn hơn và nhiều hơn

"Người đàn ông này phải ra đi!" kẻ thù của ông tuyên bố
Nhưng phụ nữ  van xin "Đừng cố làm điều đó với ông ấy”
Rõ ràng,  chàng Rasputin có rất nhiều nét quyến rũ bí ẩn
Mặc dù nếu họ rơi vào tay ông ấy là rơi vào tay một kẻ vũ phu
Sau đó, một đêm một số người có vị thế cao hơn ông
Đặt một cái bẫy, mà họ vô can
"Hãy đến thăm chúng tôi" họ liên tục  đòi hỏi
Và ông đã đến

RA RA Rasputin
Người yêu của nữ hoàng Nga
Họ đã cho thuốc độc vào rượu của người
RA RA Rasputin
Cỗ máy tình yêu lớn nhất của Nga
Ông uống tất cả và  nói "Tôi thấy khỏe trong người”

RA RA Rasputin
Người yêu của nữ hoàng Nga
Họ đã không dừng lại, họ muốn ông phải chết
RA RA Rasputin
Cỗ máy tình yêu lớn nhất của Nga
Và  họ đã bắn ông cho đến chết.

 *   kasachok: Một điệu nhảy dân gian Ucraina

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014

Solenzara

Gaston Ghrenassia (1938) sinh ra trong gia đình Do thái ở  tại Constantine, Constantine, Algeria , được biết đến trên sân khấu với tên  Enrico Macias . Ông chơi guitar từ nhỏ. Từ  tháng 7/1961 rời bỏ đất nước Algeria để sống cuộc đời lưu vong. Bài hát "Solenzara" là bài hát  trong Album Olympia 89 (1989) của Enrico Macias, phát hành năm 1989, nhưng thật ra bài hát này ông đã từng biểu diễn vào năm 1967. Bài hát Solenzara thuộc thể loại  chanson (phát âm tiếng Pháp: [ʃɑsɔ], "bài hát", từ cantio Latin) có nghĩa là  bài hát theo khuynh hướng  đa âm và mang tính chất tôn giáo (thế tục).
Bài hát này mình đã biết từ lâu, tuy nhiên chỉ biết giai điệu, không thuộc lời. Đến nay, giai điệu bài hát này đã in sâu trong tâm trí mình, và trở thành  ký ức của một thời kỳ sôi nổi, lãng mạn, bay bổng nhưng vô cùng khắc nghiệt vì bị gò bó bởi công việc chẳng liên quan đến nghệ thuật...

Solenzara (tiếng Pháp)
Sur la plag' de Solenzara
Nous nous sommes rencontrés,
Un pêcheur et sa guitare
Chantaient dans la nuit d'été
Cette douce mélopée.
Sur la plag' de Solenzara
Chaque soir on a dansé
Et le jour de ton départ
J'ai compris que je t'aimais
Et je ne t'ai plus quittée
{Refrain:}
À Solenzara
Oh ! chi dolce felicita
À Solenzara
più bè nun si po sta....
Quand j'entends la mélodie
Qui m'a donné tant de joie
Je sais que cette nuit-là
Notre amour a pris sa vie
Au cœur de Solenzara
{Instrumental}
À Solenzara
J'y reviendrai tous les étés
À Solenzara
Più bè nun si po sta....
Più bè nun si po sta
Solenzara (tiếng Anh)
On the beach of Solenzara
We are reunited
A fisherman and his guitar
Singing into the summer night
This soft chant
On the beach of Solenzara
Every night we have danced
And the day of your depart
I have understood that i loved you
And i cant quit
Chorus
À Solenzara
Oh ! chi dolce felicita
À Solenzara
più bè nun si po sta....
When i hear the melody
Which gave me so much joy
I know that this night
Our love took your life
In the heart of Solenzara
{Instrumental}
À Solenzara
J'y reviendrai tous les étés
À Solenzara
Più bè nun si po sta....
Più bè nun si po sta

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

"Woman in Love"

"Woman in Love" ( Người đàn bà đang yêu) là một bài hát trong Album “ Guilty (Tội lỗi) , mặt A, do Barry Gibb và Robin Gibb - thành viên của ban nhạc Pop Bee Gees sáng tác và phát hành tháng 9/1980. Ban nhạc này do 3 anh em họ Gibb người Úc , gốc Anh là Barry, Robin, và Maurice Gibb thành lập năm 1958 và là một ban nhạc rất nổi tiếng . Bài hát Women in love thuộc thể loại Adult contemporary music (AC) (âm nhạc đương đại dành cho người lớn ) với xu hướng nhẹ nhàng, mềm mại, giai điệu và hòa âm được nhấn mạnh để gây sự chú ý của người nghe. Đây là một bài hát theo cùng năm tháng, chỉ sau một thời gian ngắn, bài hát đã được giới trẻ trên toàn thế giới và Việt nam đón nhận và vô cùng yêu thích. Mình còn nhớ vào cuối những năm  80, hầu như các bạn trẻ yêu nhạc đều biết đến bài hát này, và bản thân mình đã tìm mọi cách chép lời bài hát và học thuộc lòng, hồi đó rất khó tìm lời bài hát, vì công nghệ còn chưa phát triển...Bài hát này do nữ ca sĩ Barba Joan Streisand ( tên khai sinh là Barbara Joan Streisand sinh năm 1942) trình bày ở giọng Mi giáng thứ (Ebm). Mình mê giọng hát này với chất giọng trong, khỏe, ở phần 2 của bài hát, đoạn "I stumble and fall, But I give you it all.." (Em trượt  chân và gục  ngã, Nhưng em đã trao cho anh tất cả),  Barba Streisand đã giữ giọng ngân trong khoảng 10 giây, và thật tuyệt vời, bài hát đã trở nên đặc biệt, mà mình nghĩ khó có người nào có thể thay thế được. Barba Streisand là một nữ ca sĩ, nhạc sĩ , diễn viên , nhà sản xuất và đạo diễn phim có tiếng người Mỹ. Theo yêu cầu của Barba, nhóm nhạc Bee Gees đã viết Album Guilty , và bài hát "Woman in Love" đã trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất của sự nghiệp âm nhạc của Streisand và đã giữ vị trí số 1 tổng cộng 3 tuần liền tại bảng xếp hạng Billboard. 

Life is a moment in space 
Where the dream has gone 
It's a lonelier place 
I kiss the morning goodbye 
But down inside you know 
we never know why 
The road is narrow and long
Where eyes meet eyes 
And the feeling is strong 
I turn away from the wall 
I stumble and fall 
But I give you it all 
CHORUS 
I am a woman in love 
And I'd do anything 
To get you into my world 
And hold you within 
It's a right I defend 
Over and over again 
What do I do? 

With you eternally mine
In love there is no measure of time
We planned it all at the start
That you and I live in each other's heart

We may be oceans away
But you feel my love and I hear what you say
No truth is ever a lie
I stumble and fall
But I give you it all..

CHORUS 
I am a woman in love
And I'd do anything
To get you into my world
And hold you within
It's a right I defend
Over and over again
What do I do?
Ohhhhhh

CHORUS
I am a woman in love
And I'm talking to you
I know how you feel
What a woman can do
It's a right I defend
Over and over again

And I'd do anything
To get you into my world
And hold you within
It's a right I defend
Over and over again
What do I do?

Người đàn bà đang yêu
 Cuộc sống là một khoảnh khắc trong không gian
Nơi giâc mơ đã tan biến
Nó sẽ là một nơi còn cô quạnh hơn vậy
Em  hôn tạm biệt buổi sớm mai
Nhưng sâu thẳm trong em là nỗi buồn, anh  có biết
Chúng mình chẳng bao giờ biết tại sao

Con đường này thật nhỏ hẹp và dài
Nơi  anh và em nhìn nhau trong ánh mắt
Và  cảm xúc dâng trào mãnh liệt
Em quay mình khỏi vỉa hè con đường nhỏ
Trượt  chân và gục  ngã
Nhưng em đã trao cho anh tất cả
Điệp khúc
Em là người đàn bà đang yêu
Và em sẽ làm bất cứ điều gì
Để mang anh tới thế giới của riêng em
Và ôm anh thật chặt trong vòng tay
Đó là quyền em mà phải bảo vệ
Mãi mãi
Em phải làm sao đây

Có anh ở bên , em mãi mãi không đổi thay
Tình yêu không có giới hạn của thời gian
Anh và em  đã dự tính tát cả từ đầu
Mình sẽ yêu nhau mãi mãi

Có thể , đai dương mênh mông làm chúng ta xa cách
Nhưng anh vẫn cảm nhận tình yêu của em và em nghe được lời anh nói
Không có sự thật nào là lời nói dối
Em trượt chân và  gục ngã
Nhưng em đã trao cho anh tất cả
Điệp khúc
Em là người đàn bà đang yêu
Và em sẽ làm bất cứ điều gì
Để mang anh tới thế giới của riêng em
Và ôm anh  anh thật chặt trong vòng tay
Đó là quyền em mà phải bảo vệ
Mãi mãi
Em phải làm sao đây
(Nhã Lan)



Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Дикая Волчица (sói hoang dã)

“Дикая волчица” (Sói hoang dã) do Ирина Аллегрова (Irina Allegrova), ca sĩ , ngôi sao nhạc pop của Nga sinh năm 1952 trình bày với phong cách mà mình cảm giác cũng mang chất “hoang dã”, clip này cũng hay và ấn tượng . Bài hát "Sói hoang dã" là bài hát trong Album " Bсе cначалa" , thể loại nhạc pop, do nhạc sĩ Олег Сорокин (Oleg Sorokin 1948 -2013) sáng tác năm 2001.
Hồi cuối tháng 12/2013 Irina Allegrova đã kết hợp rất ăn ý với Slava- cô ca sĩ đang nổi của Nga với bài hát “Tình yêu đâu tiên, tình yêu cuối cùng” mà mình đã tải về blog này hồi tháng 2 vừa qua. 

.Толи в поле, где растет степной ковыль
Толи в небе, где кружат ночные птицы
Я непомню, толи небыль, толи быль
Повстречались мне глаза волчицы
Отраженье отгоревшего костра
Я узнала в этом взгляде одиноком
Диким оком словно кровная сестра
Отблеском огня в даль звала она меня

Дикая волчица, как и я одна в ночи
Дикую волчицу никто не приручит
Стала ты волчицей
В этой ночи жаркой,
Чтоб не волочиться
За добычей жалкой


Там где ночью волки выли на луну
Душу в клочья разрывая вместо дичи
Повстречала я в степи ее одну
Не желавшую искать добычи

В сером небе как замерзшая слеза
Одиноко надо мной звезда горела
Смотрела я в печальные глаза
От костра в дали где то на краю земли

Дикая волчица, как и я одна в ночи
Дикую волчицу никто не приручит
Стала ты волчицей
В этой ночи жаркой,
Чтоб не волочиться
За добычей жалкой
Е-е-е-е-у-у-у-у
Дикая волчица, как и я одна в ночи
Дикую волчицу никто не приручит
Стала ты волчицей
В этой ночи жаркой,
Чтоб не волочиться
За добычей жалкой

Sói hoang dã
(Nhã Lan dịch)
Toli ở vùng thảo nguyên, nơi loài cây Kovyl lên xanh tốt
Toli trên bầu trời, nơi những con chim hàng đêm bay lượn
Mình không nhớ Toli có tồn tại hay không
Mình đã thấy ánh mắt của cô sói ấy
phản chiếu ánh lửa lập lòe xa lạ
Mình thấy sự cô đơn trong đôi mắt ấy
đôi mắt hoang dại, mình cảm thấy dường như là đứa em gái trên người đầy máu
Nó đã gọi mình từ xa qua ánh lửa đôi mắt hoang dại

 Sói hoang dã giống mình cô đơn trong đêm vắng
Chẳng được ai thuần hóa, đã trở thành con sói trong đêm nóng bức này
Vậy đừng săn đuổi con vật đáng thương, tội nghiệp này
Đâu đó bầy sói cất tiếng hú trong đêm dưới ánh trăng
Linh hồn như tách rời khỏi thân xác con thú
Mình đã gặp sói cái trên thảo nguyên, chỉ một mình nó
Mình không muốn truy sát nó

Trong bầu trời xám dường như có giọt nước mắt đông lạnh
Ngôi sao cô đơn rực cháy trước mắt mình
Mình nhìn vào đôi mắt u buồn ấy
Từ một đám lửa phía xa nào đó trên mặt đất.

Sói hoang dã giống mình cô đơn trong đêm vắng
Chẳng được ai thuần hóa, đã trở thành con sói trong đêm nóng bức này
Vậy đừng săn đuổi con vật đáng thương, tội nghiệp này
Đâu đó bầy sói cất tiếng hú trong đêm dưới ánh trăng
Linh hồn như tách rời khỏi thân xác con thú
Mình đã gặp sói cái trên thảo nguyên, chỉ một mình nó
Mình không muốn  truy sát nó

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Прованс với giọng ca Елка

Музыка и слова - Егор Солодовников
Егор Алексеевич Солодовников (Igor Alerxeevish Solodonhikov) người Ucraina sinh năm 1985, một nhạc sĩ , ca sĩ trẻ tuổi có tư chất riêng, mạnh dạn, thoái mái, sôi động. Bài hát «Прованс» Igor sáng tác năm 2010 cùng hợp tác với Ёлка ( Elizabeth Valdermarova) nữ ca sĩ người Ucraina và đã thành công vang dội cả ở Nga và Ucraina trong năm 2011. 
" Provence " được viết ở thể loại guitar pop, và một nửa là accordion Pháp . Elka đã đưa bài hát vào một thể loại " nhạc phổ biến " và nói rằng " Provence " là một bài hát về " cảm giác tự do bên trong" , và quả thật, nó đã trở thành một hình ảnh tập thể không những ở Nga, Ucraina mà là của giới trẻ các nước .
Bài hát được các nhà phê bình đánh giá cao, gọi nó là một trong những hit nhạc pop hàng đầu của năm 2011. Phải công nhận, mình thấy thích các bạn này, tuổi trẻ thật nhiều sáng tạo, và tài năng, nghe bài hát thấy phấn chấn, và yêu cuộc sống này biết bao!

Уютное кафе на улицах с плетёной мебелью
Где красное вино из местных погребов больших Шато
Ты можешь говорить, что это только глупые мечты
Но в планах у меня всё, видимо, немного круче
Ведь
Припев:
Завтра в 7:22 я буду в Борисполе
Сидеть в самолёте и думать о пилоте
Чтобы он хорошо взлетел и крайне удачно сел
Где-нибудь в Париже, а там ещё немного и Прованс!
Бордовый горизонт, бордовое Бордо в бокале
Поверить не могу, что это всё уже так близко
Ведь
Припев (2 раза)
Provence
Nhã Lan dịch
Quán cà phê ấm cúng trên phố  với bàn ghế mây trải khăn thêu 
Nơi có rượu vang đỏ  Chateau thật danh tiếng
Có thể anh  nói em  mơ ước  điều vớ vẩn
Nhưng mọi việc đã xong, dù  gặp chút trở ngại, anh biết rồi.
Điệp khúc :
Ngày mai vào lúc 7:22 em sẽ ở ở Borispol
Ngồi trên máy bay và  nghĩ  đến chàng phi công
Làm sao chàng  có chuyến bay tốt đẹp, và có một chỗ ngồi lý tưởng
Ở một nơi nào đó tại Paris, và  còn nhiều chỗ đẹp hơn khi ở Provence.
Một chân  trời  đỏ , những ly rượu  Bordeaux rực màu đỏ
Thật không thể tin nổi sao tất cả trở nên gần gũi đến thế
Điệp khúc .
Ngày mai vào lúc 7:22 em sẽ ở ở Borispol
Ngồi trên máy bay và  nghĩ  đến chàng phi công
Làm sao chàng  có chuyến bay tốt đẹp, và có một chỗ ngồi yêu thích
Ở một nơi nào đó tại Paris, và  còn nhiều chỗ đẹp hơn khi ở Provence.
  


Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

"Careless Whisper" với giọng ca George Michael, thành viên ban nhạc Wham!

Một bài hát  đã trở thành bài hát “gối đầu giường” của mình từ những năm 90 , đó là ca khúc Careless Whisper ( Lời thì thầm bất cẩn) của Wham!, cung Rê thứ (Dm), nhịp 4/4.
Wham! là tên ban nhạc của Anh do George Michael và Andrew Ridgeley sáng lập vào những năm đầu 1980. Ở Mỹ ban nhạc này được biết đến với cái tên thật ngắn gọn là Wham! Bài hát “Careless Whisper” là bài hát thuộc thể loại Alternative Metal (Metal phá cách), là một thể loại luôn lai tạo, sáng tạo  để tìm ra cái mới. Điệu kèn saxophone lôi cuốn mê hoặc đã trở nên quen thuộc với khán giả yêu nhạc trên toàn thế giới. Đặc biệt đoạn điệp khúc từ câu:  "Tonight the music seems so loud, I wish that we could lose this crowd"...( Đêm nay tiếng nhạc dường như quá lớn, Ước gì chúng ta có thể tránh xa đám đông này..), giai điệu bài hát đã được biến cách (alternative) , đưa người nghe vào trạng thái lâng lâng, một cảm giác đam mê không dứt, và mình nghĩ rằng, đây cũng chính là yếu tố đưa bài hát và người thể hiện nó lên đỉnh cao của sự sáng tạo. Vào thập niên 80, bản nhạc này được phát liên tục trên các phương tiện truyền thông. Đến nay ca khúc vẫn còn nguyên sức sống và đã được nhiều người hát lại, trong đó có cả những ca sĩ nổi tiếng như Julio Iglesias, Barry Manilow,…
Ban nhạc gồm hai thành viên là George Michael và Andrew Ridgeley vốn là hai người bạn rất thân. Trong nhóm, Michael là người đảm nhận phần lớn vai trò hát, sáng tác, sản xuất...
Careless Whisper được Wham! chuẩn bị suốt ba năm trời. Khi tất cả đã hoàn thành, hai chàng trai lên kế hoạch thu âm và sản xuất. Cả hai quyết định sẽ qua Alabama, Mỹ để thu âm ca khúc cùng với nhà sản xuất Jerry Wexler. Ca khúc hứa hẹn mang lại thành công lớn cho Wham!
Tuy nhiên, vài ngày trước khi khởi hành, Andrew bị bệnh và không thể đi cùng George Michael, tất cả mọi thứ thứ từ bản hòa âm, phối khí, đến chỗ ăn chỗ ở,… đều đã được lên lịch sắp xếp. Sự trục trặc này có thể  gây trở ngại cho Wham!. Vì vậy George Michael quyết định sẽ đi thu âm ca khúc này một mình. Vì không ưng ý với bản thu đầu, George thu lại bản tiếp theo với tiếng kèn saxophone do chính anh biên soạn.
Tháng 7 năm 1984, Careless Whisper chính thức phát hành. Giọng hát mượt mà, truyền cảm  của George Michael hòa trong tiếng saxophone  vô cùng ấn tượng đã nhanh chóng gây chú ý trong lòng công chúng. Từ ngày Careless Whisper phát hành, ở đâu người ta cũng chỉ còn nhắc đến George Michael dù Andrew cũng được ghi nhận là đồng tác giả. Từ đó, tư cách của hai thành viên trong nhóm cũng thay đổi hẳn. George trở thành con cưng, với gương mặt  đẹp trai với đôi mắt xanh mơ màng đầy quyến rũ, còn Andrew chỉ có vai trò làm nền. Khi diễn ca khúc Careless Whisper thì trên sân khấu chỉ có George và một người chơi saxophone. George Michael mau chóng chiếm được trái tim người hâm mộ. Ca khúc vươn lên hạng nhất ở 25 quốc gia, đưa tên tuổi George Michael ngang tầm những tên tuổi ca sĩ nổi tiếng khác trên toàn thế giới.
Careless Whisper càng thành công bao nhiêu thì lại làm cho Andrew tội nghiệp lu mờ bấy nhiêu. Càng ngày, Andrew càng trở nên mờ nhạt đến mức vị trí của anh trở thành thừa , không có ý nghĩa gì trong nhóm, thậm chí  mọi người đã phải hỏi George “Anh ta làm gì trong nhóm vậy?” George đều  trả lời “Andrew là một phần quan trọng của nhóm. Nếu không có anh ấy, tôi đã là một người khác, và không có tôi thì anh ấy cũng vậy.  Wham! đã tạo nên tôi và anh ấy!".  Và, Andrew hiểu rằng, anh và bạn không thể cùng đi chung con đường tới thành công được nữa. Từ lúc nào anh đã trở thành cái bóng của bạn mình.
Rồi cái gì đến sẽ phải đến. Năm 1986, nhóm chính thức tuyên bố tan rã . Buổi biểu diễn chia tay sau gần 4 năm gắn bó của Wham! có gần 80.000 khán giả diễn ra trong không khí buồn bã luyến tiếc, chua xót . Một trong những cặp đôi tuyệt vời nhất lịch sử nhạc Pop Rock đã không còn nữa. Cuối cùng, chàng ca sĩ - nhạc sĩ tài năng nhưng kém may mắn  Andrew Ridgeley đã từ bỏ con đường nghệ thuật và chuyển sang lĩnh vực thể thao, anh trở thành một tay đua xe đạp ở pháp.
"Careless Whisper"
I Feel So Unsure
As i take your hand
And lead you to the dance floor
As the music dies
Something in your eyes
Calls to mind a silver screen
And all its sad goodbyes
Chorus
I'm never gonna dance again
Guilty feet have got no rhythm
Though it's easy to pretend
I know you're not a fool
I should have known better than to cheat a friend
And waste a chance that i've been given
So i'm never gonna dance again
The way I danced with you

 Time can never mend
The careless whisper of a good friend
To the heart and mind
Ignorance is kind
There's no comfort in the truth
Pain is all you'll find

Chorus
I'm never gonna dance again
Guilty feet have got no rhythm
Though it's easy to pretend
I know you're not a fool
I should have known better than to cheat a friend
And waste a chance that i've been given
So i'm never gonna dance again
The way I danced with you

Chorus (Alternative)
Tonight the music seems so loud
I wish that we could lose this crowd
Maybe it's better this way
We'd hurt each other with the things we want to say
We could have been so good together
We could have lived this dance forever
But now who's gonna dance with me
Please stay
Chorus
Now that you've gone
Now that you've gone
Now that you've gone
Was what i did so wrong
So wrong that you had to leave me alone

 Lời thì thầm bất cẩn
(Nhã lan dịch)
Anh cảm thấy không chắc chắn
Ngay lúc cầm tay em dìu vào sàn nhảy
Rồi khi tiếng nhạc tắt hẳn,
có điều gì đó thoáng hiện trong mắt em
Làm anh nhớ tới màn hình bạc
cùng với tất cả lời chia tay buồn bã
Điệp khúc
Anh sẽ không bao giờ khiêu vũ nữa
Đôi chân tội lỗi này đã không thể lướt theo giai điệu nhịp nhàng
Dẫu rằng anh có thể dễ dàng giả vờ
Nhưng anh biết em chẳng phải là một cô gái ngu ngốc
Anh biết nếu tự lừa dối bản thân để làm bạn cùng em thì sẽ tốt hơn
Và  bỏ đi cơ hội mà anh đã có
Nên anh sẽ chẳng bao giờ khiêu vũ nữa
Những vũ điệu cùng nhảy với em


Có thể thời gian sẽ không thể xóa nhòa
lời thì thầm bất cẩn của anh
đối với trái tim và lý trí ,
hững hờ lại là một điều tốt
Sự thật luôn là điều phũ phàng
Và em sẽ cảm nhận một nỗi đau
Điệp khúc
Đêm nay tiếng nhạc dường như quá lớn
Ước gì chúng ta có thể tránh xa đám đông này
Có lẽ đó là con đường tốt nhất
Khi những lời nói vô tình  làm tổn thương nhau
Lẽ ra chúng ta có thể đã hạnh phúc bên nhau
Lẽ ra chúng ta đã có thể mãi mãi bên nhau trong vũ điệu tình yêu
Nhưng bây giờ , ai có thể cùng anh khiêu vũ đây ?
Xin em hãy ở lại bên anh
Điệp khúc
Giờ đây em đã bỏ ra đi
Giờ đây em đã bỏ ra đi
Giờ đây em đã bỏ ra đi
Anh đã làm sai điều gì ?
Hay sai lầm của anh chính là để em ra đi để anh cô đơn một mình ?

Nghe bài Careless Whisper có lời dịch:

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Casablanca của Bertie Higgins

Bài hát Casablanca luôn là bài hát yêu thích của mình từ những năm 90 . Giai điệu Soft Rock nhẹ nhàng, êm dịu làm say đắm lòng người, lời bài ca cũng hay. Bài hát này trong Album "Just Another Day in Paradise" gồm 10 bài hát của  Elbert Joseph "Bertie" Higgins (1944) - ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ được phát hành năm 1982 . Bài hát Casablanca đề cập đến  bộ phim cùng tên “Casablanca” do  Michael Curtiz (1886-1962)  người Hung ga ri làm đạo diễn, được công chiếu năm 1942 với ngôi sao sáng chói Humphrey Bogart (1899-1957) - nam diễn viên người Mỹ , được xếp hạng là ngôi sao vĩ đại nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ. Trong bộ phim “Casablanca” 1942, ông đã tỏa sáng và được đề cử là nam diễn viên xuất sắc nhất. Vấn đề ở đây là sự ám ảnh kỳ lạ của tác giả bài hát của năm 1982 Bertie Higgins với bộ phim cùng tên của thập niên 1940 và ngôi sao Humphrey Bogart đã  làm cho nó thêm phần quyến rũ và mê hoặc lòng người. Điều duy nhất Bogart và Higgins có điểm chung là họ đã cảm nhận Casablanca, và  bài hát chủ đạo “ As time Goes By”  trong bộ phim "Casablanca" 1942 cũng khơi nguồn cảm hứng cho Bertie Higgins sáng tác ca khúc cùng tên này. Từ những nguồn cảm xúc đó Bertie Higgins đã làm  Album "Just Another Day in Paradise" của mình trở nên quyến rũ với những giai điệu Soft Rock, cung Si thứ (Bm),  nhịp 4/4 nhẹ nhàng êm ái, thu hút được hàng triệu trái tim yêu nhạc trên toàn cầu…

I fell in love with you watching Casablanca
Back row of the drive-in show in the flickering light
Popcorn and cokes beneath the stars
Became champagne and caviar
Making love on a long hot summer's night

I thought you fell in love with me watching Casablanca
Holding hands 'neath the paddle fans
In Rick's candle lit cafe
Hiding in the shadows from the spies
Moroccan moonlight in your eyes
Making magic at the movies in my old Chevrolet

Oh a kiss is still a kiss in Casablanca
But a kiss is not a kiss without your sigh
Please come back to me in Casablanca
I love you more and more each day as time goes by

I guess there're many broken hearts in Casablanca
You know I've never really been there so I don't know
I guess our love story will never be seen
On the big wide silver screen
But it hurt just as bad when I had to watch you go


Oh a kiss is still a kiss in Casablanca
But a kiss is not a kiss without your sigh
Please come back to me in Casablanca
I love you more and more each day as time goes by


Oh a kiss is still a kiss in Casablanca
But a kiss is not a kiss without your sigh
Please come back to me in Casablanca
I love you more and more each day as time goes by

Lời dịch:
Anh đã phải lòng em khi xem Casablanca
Phía sau hàng xe rạp chiếu phim chìm trong ánh sáng lung linh
Bắp rang và Coca bên dưới ánh sao
Trở nên rượu sâm banh và trứng cá muối
Tình yêu nảy nở trong một đêm hạ dài nóng nực

Anh cứ tưởng em cũng phải lòng anh khi ta cùng xem Casablanca
Nắm tay nhau dưới nhưng cánh quạt lơ lửng quay
Trong quán Cà phê Rick's tràn ngâp ánh đèn nến
Ẩn mình trong bóng tối tránh khỏi bọn gián điệp
Ánh trăng Ma rốc trong mắt em
Tạo nên phép màu trong bộ phim trên chiếc Chevrolet cũ kĩ của anh


Oh, nụ hôn vẫn là nụ hôn ở trong Casablanca
Nhưng nụ hôn không còn là nụ hôn nếu thiếu tiếng thở dài của em
Xin em hãy trở lại với anh ở Casablanca
Anh yêu em mỗi ngày khi thời gian qua.


Anh đoán có nhiều trái tim tan nát ở Casablanca
Em biết đấy, anh chưa bao giờ đến Casablanca cho nên anh không biết
Anh đoán rằng chuyện tình chúng ta sẽ không bao giờ được tìm thấy
Trên màn bạc rộng lớn kia
Nhưng thật đau xót và đau buồn khi phải nhìn em ra đi


Oh, nụ hôn vẫn là nụ hôn ở trong Casablanca
Nhưng nụ hôn không còn là nụ hôn nếu thiếu tiếng thở dài của em
Xin em hãy trở lại với anh ở Casablanca
Anh yêu em mỗi ngày khi thời gian qua.


Oh, nụ hôn vẫn là nụ hôn ở trong Casablanca
Nhưng nụ hôn không còn là nụ hôn nếu thiếu tiếng thở dài của em
Xin em hãy trở lại với anh ở Casablanca
Anh yêu em mỗi ngày khi thời gian qua.

(from net - edited)
Cùng nghe bài hát có cả lời dịch:

Nghe bài hát As Time Goes By trong phim Casablanca 1942

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Missing you

Amy Lynn Hartzler ( 1981 ) , còn gọi là  Amy Lee , là một ca sĩ - nhạc sĩ người Mỹ và nghệ sĩ dương cầm. Cô  là người đồng sáng lập và ca sĩ chính của ban nhạc rock Evanescence . Năm 2012, Lee giành được danh dự ca sĩ xuất sắc nhất tại giải thưởng Revolver Golden Gods, năm 2013 , Amy Lee được đặt tên là  Nữ thần nhạc Rock của năm 2012 trong lễ trao giải Âm nhạc Loudwire , và người phụ nữ nổi nhất   năm 2013 trong lễ trao giải NME (New Musical Express Awards là một giải thưởng âm nhạc hàng năm  tại Anh Quốc, được thành lập bởi các tạp chí âm nhạc).
  Và đây là bài bài “Missing you” do Amy Lee cùng ban nhạc  Big Dismal ( ban nhạc Rock  Ki tô giáo) trình bày vào năm 2003.


Please, please forgive me,
But I won't be home again.
Maybe someday you'll look up,
And, barely conscious, you'll say to no one:
"Isn't something missing?"

You won't cry for my absence, I know -
You forgot me long ago.
Am I that unimportant...?
Am I so insignificant...?
Isn't something missing?
Isn't someone missing me?
Chorus:
Even though I'm the sacrifice,
You won't try for me, not now.
Though I'd die to know you love me,
I'm all alone.
Isn't someone missing me?

Please, please forgive me,
But I won't be home again.
I know what you do to yourself,
I breathe deep and cry out,
"Isn't something missing?
Isn't someone missing me?"

Chorus
 And if I bleed, I'll bleed,
Knowing you don't care.
And if I sleep just to dream of you
I'll wake without you there,
Isn't something missing?
Isn't something...
   
Nhớ anh
 Hãy tha thứ cho em  nhé, em xin anh,
Nhưng em sẽ không trở về nhà nữa.
Có thể một ngày nào đó anh sẽ ngước nhìn lên
Và thốt lên câu hỏi trong vô thức 
"Có gì đó đang dần mất đi chăng?"

Anh sẽ không khóc  khi không có em ở bên, em biết vậy
Anh đã quên em  lâu rồi.
Em chẳng còn quan trọng nữa rồi sao?
Em không đáng để anh nghĩ đến sao?
Một cái gì đó đang dần mất đi
Có ai đó đang nhớ đến em?

Điệp khúc:
Ngay cả khi em là vật hy sinh,
Anh cũng không cố gắng vì em, không phải bây giờ.
Cho dù em muốn chết để biết tình yêu của anh với em thế nào
Em chỉ có một mình.
Có ai đó đang thấy thiếu vắng em?

Hãy tha thứ cho em  nhé, em xin anh,
Nhưng em sẽ không trở về nhà nữa.
Em biết những gì anh làm cho bản thân anh,
Em  thở thật sâu và khóc,
" Một cái gì đó đang mất  đi
Có ai đó đang thấy nhớ em?

Và em sẽ đau đớn vô cùng,
Khi biết anh chẳng quan tâm đến em
Em ngủ chỉ để mơ đến anh thôi
Em sẽ thức khi không có anh ở đó,
Một cái gì đang mất đi sao?
Một cái gì đó…
 (Nhã Lan dịch)





Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

Chopin Ballade No.1 op 23 in G Minor (cung Sol thứ)

  Thuật ngữ ballade trong âm nhạc cổ điển được áp dụng cho một tác phẩm khí nhạc (thường là cho piano) theo phong cách kể chuyện. Frédéric Chopin đã sử dụng thuật ngữ này đầu tiên trong Ballade giọng Sol thứ op.23, xuất bản năm 1836 nhưng bắt đầu sáng tác từ năm 1831. Ông đã sáng tác bốn ballade mà các đặc trưng chung của chúng là nhịp phức (6/4 hoặc 6/8) và một cấu trúc dựa trên các biến thể cùng chủ đề mà các niêm luật hình thức âm nhạc không chi phối nhiều như ý định mang tính chương trình hay văn học.
  Bản Ballade Số 1 , cung Sol thứ F. Chopin sáng tác trong thời gian năm 1835-1836 để tặng Nam tước Stockhausen (một đại sứ Đức). Bản Ballade Số 1 là bản đầu tiên trong 4 bản ballade và thường được xem là một trong những tác phẩm vĩ đại của Chopin. Trước ông, không ai sáng tác ra thể loại nhạc nào được gọi là ballade (một thể loại luôn gắn liền với thơ). Ông sử dụng nhiều kỹ thuật kết cấu và giai điệu trữ tình để viết nên một loại âm nhạc mạnh mẽ, anh hùng. James Huneker (một nhạc sĩ và nhà bình phê bình nhạc người Mỹ) gọi tác phẩm này là “Odyssey trong tâm hồn Chopin” (Odyssey là một tác phẩm sử thi của Hy Lạp cổ đại). Ông viết bản Ballade đầu tiên này tại Vienna và hoàn tất tại Paris năm 1836.
  Bản Ballade số 1 cung Sol thứ này, và cùng với bản Nocturne số 20 cung Đô thăng thứ đã được sử dụng trong bộ phim “The pianist” của đạo diễn người Ba lan Roman Polanski dựa trên cuốn hồi ký cùng tên của nghệ sĩ dương cầm Ba lan gốc Do thái Wladyslaw Szpilman, người may mắn sống sót trong đợt tàn sát người Do thái của phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai
.

Nghệ sĩ piano người Ba lan chuyên chơi nhạc cổ điển Krystian Zimerman sinh năm 1956 trình bày bản Ballade huyền thoại này.  Zimerman  đã giành giải nhất kỳ thi piano quốc tế mang tên Chopin năm 1975 tại Varsaw, và giải Âm nhạc Leonie Sonning năm 1994 tại Đan mạch

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

Träumerei – Reverie (mộng mơ) cung Fa trưởng của Robert Schumann (1810-1856)

Kinderszenen ( Thời thơ ấu) , Opus 15, là một tập hợp của mười ba bản nhạc cho piano được Robert Schumann (1810-1856) viết vào năm 1838 gồm 30 phần, sau đó chọn lọc còn lại 13 phần.
Phần 7 , Träumerei – Reverie (mộng mơ) cung Fa trưởng là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Schumann , nó từng được làm tiêu đề của một bộ phim của Đức năm 1944 về tiểu sử của Robert Schumann , đươc chọn làm phàn mở đầu và kết thúc của bộ phim Hollywood - Song of love (Bài hát tình yêu) năm 1947.

Phần 7 - Reverie mô tả sự vô tội của tuổi thơ, một tuổi thơ dễ bị tổn thương, dễ hờn dễ giận , nhưng cũng vô cùng nhẹ nhàng và êm ái. Nhiều nghệ sĩ piano đã trình bày tác phẩm này gần như hóa thân vào bản nhạc, trong khi những người khác ( đặc biệt là Horowitz ) đã nhấn mạnh về một cách tiếp cận khách quan hơn. Chủ đề chính là ngọt ngào ngây thơ và tình cảm, mà Schumann muốn tả lại những góc cạnh thời thơ ấu của mình. Giai điệu khó quên , hòa âm đơn giản, nhưng đặc biệt , và tâm trạng tổng thể mơ mộng và nhẹ nhàng. Phần này kéo dài trong ba phút, nhưng là dài nhất trong tập Kinderszenen.
Nghe Horowitz chơi trên piano nào


Và đây là Katharine Hepburn trong vai Clara Schumann (người vợ yêu dấu của Schumann) trong bộ phim "Song of Love" (Bài hát tình yêu) năm 1947, bản nhạc Reverie được sử dụng

Mình biết giai điệu bài hát này từ khi còn trong nôi. Lời bài hát mình chẳng nhớ, nhưng giai điệu bản nhạc đã đi vào máu vào tim mình, và đây là phần lời Việt do Phạm Duy dịch.
Chiều rơi từ nơi nào xa vắng cũ
Bóng đêm về đó, trời sầu tưởng nhớ
Và lòng nặng mong chờ.
Ngồi im nhìn lên vườn sao lấp ló
Có muôn ngàn sao lững lờ
Có ai run trong xa mờ.
Người xưa về đâu từ khi lá úa ?
Biết nhau chiều đó, trở về đường cũ
Rồi biệt ly không ngờ.
Người ơi ! Phải chăng lạc trong cánh gió ?
Đến bên đàn trăng tít mù
Hóa thân ra sao mơ hồ.
Vì sao lìa nhau để theo kiếp số ?
Cách xa nhiều quá
Nhờ đêm chiếu cho thêm mịt mù.
Dù sao người trên trời cao vẫn nhớ
Biết duyên bạc số
Mà sao vẫn chưa quên tình hờ.
Đột nhiên hạt sao rụng như cánh lá
Thấy tinh cầu ngã
Tưởng là người cũ, là người của mong chờ.
Tình ta hòa theo vệt sao bở ngỡ
Tới nơi mơ hồ có một trời hoa
Suốt một đời mơ ước thành tình ta.
Còn đây là lời bài hát “Những ngày mộng mơ” cải biên lại trong album Chát với Mozart do Ca sĩ Mỹ Linh thể hiện, với mục đích để quần chúng hóa nhạc cổ điển???. Dù sao mình cũng tải  về cùng cảm nhận
Mộng mơ một ngày xuân sang nắng ấm
Những con đường lá xoè xanh non
Góc đường nơi anh vẫn hẹn
Mộng mơ ngày nào vui như tiếng hát
Có nụ cười anh có giọng nói anh nghe sao thiết tha.


Mộng mơ, một ngày bên anh ấp áp
Nắng mai về thức vòng tay anh xiết bờ vai em rất êm
Mộng mơ được gần bên anh mãi mãi
Mãi trong vòng tay anh xiết chặt của anh những ngày êm đềm.

Mộng mơ, mùa thu sương giăng cuối phố
Những con đường lá vàng như mơ bỗng xa mờ
Mình em ngẩn ngơ đi trên lối cũ
Biết anh là những gì xa xôi, vẫn đợi chờ.

Mộng mơ mùa đông mưa rơi ướt áo
Gió mưa về thấm lạnh trên vai mắt buồn trong đêm nhớ ai
Mộng mơ tình yêu bâng khuâng ngõ tối
Có cơn mưa phùn có ngọn đèn khuya
Thắp ngày xa xưa có người mộng mơ.
Tuy nhiên, mình chỉ thích nghe Horwitz chơi trên piano nhất, đó mới thật là Schumann, hoặc bản dịch của Phạm Duy, mình thấy khá ấn tượng.

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

Storm của Antonio Vivaldi (1678-1741)

Antonio Lucio Vivaldi (1678 - 1741 ) là nhà soạn nhạc Ý thời kỳ Baroque (tiền cổ điển), là nghệ sĩ violin bậc thầy, và là giáo viên . Ông ra đời tại Venice, và được công nhận là một trong những nhà soạn nhạc Baroque lớn nhất, và ảnh hưởng của ông trong suốt cuộc đời của ông đã lan rộng khắp châu Âu. Ông được biết đến chủ yếu cho các sáng tác nhiều bản concerto cho các nhạc cụ, cho violin và nhièu loại nhạc cụ khác . Vivaldi viết hơn 500 bản concerto, nhưng bốn bản concerto cho đàn violon đặt tên bốn mùa (Mùa Xuân, Mùa Hè, Mùa Thu, Mùa Đông) miêu tả phong cảnh từng mùa tương ứng là những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông (chương đầu của bản concerto Mùa Xuân được dùng làm nhạc mở đầu cho trương trình Âm nhạc thính phòng giao hưởng phát sóng trên đài tiếng nói Việt Nam lúc 13h ).
Four Seasons ( Bốn mùa) là một bộ bốn bản concerto violin của Antonio Vivaldi , được ông sáng tác năm 1723 . The Four Seasons là tác phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi , và là một trong những phần phổ biến nhất trong các tiết mục âm nhạc cổ điển . Kết cấu của mỗi concerto được thay đổi , giống như mỗi mùa tương ứng. Ví dụ, " Mùa đông " được dàn trải gợi đến một cơn mưa băng giá lạnh lẽo , trong khi "Mùa hè" gợi lên một cơn bão trong chương cuối cùng của nó. Đó là lý do vì sao chương này thường được gọi là "Storm" 

Mỗi bản concerto trên gồm 3 chương, với chương đầu và cuối nhanh còn chương giữa thì chậm. Ba chương của Mùa Hè là:
1. Allegro non molto (tương đối nhanh, sống động)
2. Adagio e piano – Presto e forte (thong thả mềm mại - nhanh, khỏe)
3. Presto (Rất nhanh)

Nghe chương 3- Presto mình cảm thấy những đám mây đen bỗng dưng kéo tới một cách đe dọa, thấy đáng sợ làm sao, và kèm theo đó là những cơn gió mát lạnh trong một buổi chiều hè nắng gắt oi bức. Dường như có cả tiếng ì ầm của sấm nữa. Tự nhiên thấy trong lòng như có cơn bão, xốn xang, một nỗi đau nào đó không thể diễn tả bằng lời. Rồi mình cảm nhận có mưa, một cơn mưa hè tầm tã , hối hả trút nước xuống mặt đất khô nóng nứt nẻ, tâm trạng mình thấy dịu lại đôi chút...
Cùng nghe nữ nghệ sỹ violon Vanessa Mae (Vanessa-Mae Vanakorn Nicholso) sinh ngày 27 tháng 10 năm 1978 , là nghệ sĩ vĩ cầm gốc Thái và Trung Quốc. Phong cách âm nhạc của cô là "violon kỹ thuật âm thanh hợp nhất", như một số album của cô nổi bật tính năng phong cách kỹ thuật với phong cách cổ điển. Vanessa Mae chơi chương này (Presto) theo phong cách pop rock với tựa đề Storm (Cơn bão)